Kiến thức căn bản về nhiếp ảnh

Exposure (Phơi sáng)

Bản chất của chụp ảnh là sự phơi sáng. Máy ảnh là một hộp tối. Khi bấm nút chụp ảnh, một cánh cửa được mở ra cho ánh sáng bên ngoài đi vào qua ống kính. Ánh sáng tác dụng vào film (hay sensor đối với máy digital _ từ sau đây tôi chỉ nói đến film) để tạo ra hình ảnh. Một bức ảnh ta có thể tạm chia làm hai phần: độ sáng và sự cân đối ánh sáng.

Ta hãy hình dung film là một vật thu sáng. Và độ sáng của bức ảnh quyết định bởi lượng ánh sáng mà film thu được. Khi lượng ánh sáng vào quá nhiều thì ảnh sẽ trắng xóa còn không đủ thì ảnh sẽ bị tối. Một bức ảnh có độ sáng đúng với đối tượng được chụp gọi là đúng sáng.Ngoài yếu tố độ sáng ra, sự cân đối ánh sáng khác nhau sẽ tạo ra những bức ảnh hoàn toàn khác nhau với cùng một độ sáng. Continue reading

Độ nhạy sáng (ISO)

Là độ nhạy sáng của phim hay của bộ cảm biến. Ký hiệu thường dùng trên phim nhựa là ASA, ISO, DIN,… Tương tự như vậy, máy ảnh số cũng dùng thông số ISO để biểu thị các cấp của độ nhạy sáng

Độ nhạy – IOS
Mức độ bắt sáng
Độ sáng nơi chụp ảnh
<100 thấp mạnh
100 – 200

trung bình

trung bình
>= 400 cao yếu
ISO 100 -200 là độ nhạy sáng thông dụng mà hầu hết các máy ảnh số compact dùng để thiết lập mặc định, vừa phù hợp với ánh sáng thường gặp,vừa cho ra ảnh có độ mịn chấp nhận được, đồng thời, cũng phù hợp với người sử dụng không chuyên.

Trong một số máy ảnh compact sau này cho phép bạn tăng độ nhạy sáng lên 400, 800, 1.600,…. Continue reading

Độ nét sâu của trường ảnh (DOF)

Độ nét sâu của trường ảnh (Depth of field – DOF) là vùng ảnh rõ nét trước  và sau điểm canh nét. Đây là một đặc điểm quan trọng trong nhiếp ảnh, và đăc biệt có ý nghĩa đối với bộ môn nhiếp ảnh nghệ thuật. Hình 19 cho ta khái niệm về điều này. Trong hai hình minh hoạ dưới đây, độ nét sâu của trường ảnh là vùng màu xám với điểm canh nét là nhân vật màu đó.

Hình a, không rõ nét trước và sau điểm canh nét, bao gồm từ đến nhân vật màu xanh lá cây (gần máy ảnh nhất) đến màu tìm (xa máy ảnh nhất), cho ta độ nét sâu là lớn (dài). Ngoài khảng này thì hình ảnh điều bị mờ đi. Continue reading

Zoom quang và số.

Zoom quang và số.Như đã nói trên, máy có khả năng phóng lớn quang học là 3X. Đây là khả năng phóng lớn do hệ thấu kính mang lại, gọi là zoom quang (optical). Ngoài ra, với các máy ảnh số, nói chung còn có khả năng zoom số (digital).

Khác biệt cơ bản giữa hai loại này, là zoom quang làm việc theo nguyên tắc thay đổi tiêu cự.Khác biệt cơ bản giữa hai loại này, là zoom quang làm việc theo nguyên tắc thay đổi tiêu cự. Điều này làm cho hình ảnh được phóng lớn hoặc thu nhỏ với ành sáng thực. Kết quả này được bộ cảm biến ghi nhận lại với sắc độ và cường độ ánh sáng thực khi bấm máy. DO vậy, zoom quang còn được gọi là zoom thực.

Còn zoom số, là hình ảnh được phóng lớn do thuật toán đã được lập trình sẵn trong máy, máy sử dụng hình ảnh có sẵn để tính toán mô phỏng và tạo ra một ảnh tương đương nhưng lớn hơn ảnh thật. Nói cho đơn giản, zoom số là sự phóng lớn hình ảnh thông qua phần mềm đã được cài sẵn trong máy. Do vậy, kết quà hình ảnh sau chụp dựa trên thuật toán mô phỏng chứ không dựa trên cường độ và sắc độ của ánh sáng như zoom quang. Continue reading

Tốc độ chụp

Tốc độ chụp còn được hiểu là thời gian phơi sáng – exposure time

Chụp ảnh là thao tác thu nhận hình ảnh thông qua một lượng ánh sáng nhật định trong một khoảng thời gian nhất định. Để điều chỉnh lượng ánh sáng là chức năng của khẩu độ, như đã nói ở phần trên.

Còn khoảng thời gian nhận sáng được điều chỉnh bởi một bộ phận khác gọi là màn trập (shutter). Ở đây, thời gian được điều chỉnh gián tiếp bởi tốc độ đóng mở màn trập.

Trước khi chụp, màn trập trong trạng thái đóng, khi bấm máy thì màn trập mở ra để nhận ánh sáng và tiếp tục đóng lại để chấm dứt quá trình chụp ảnh. Khoảng thời gian này (mở ra và đóng lại) được gọi là thời gian phơi sáng (exposure time).

Để có thời gian phơi sáng dài, thì ta cho màn trập hoạt động (shutter speed) chậm, và ngược lại, để có thời gian phơi sáng ngắn hơn thì ta tăng tốc độ màn trập lên. Continue reading

Tiêu cự (Focal length).

Tiêu cự của máy ảnh là thông số cho biết góc nhìn của máy ảnh, nghĩa là khoảng phạm vi mà máy ảnh có thề “thâu tóm” được. Ống kính có tiêu cự 50 mm được coi là chuẩn (tính theo hệ máy ảnh sử dụng phím nhựa 35 mm), vì loại ống kính này có góc nhìn gần giống với mắt người nhất. Ống kính có tiêu cự nhỏ hơn thì gọi là ống kính góc rộng, tức là có góc chụp “wide”. Ngược lại nếu tiêu cự lớn hơn 50 mm thì gọi là ống kính Te1le, tức là có khả năng phóng lớn được những vật ở xa. Trong ảnh 13 dưới đây cho ta một hình dung về “góc nhìn” của máy ảnh.

Đối với mày ảnh không chuyên (digital compact) thông thường chỉ có một ống kính. Nhưng tiêu cự sẽ có thay đổi như ta sẽ tìm hiểu một sản phẩm điển hình trong hình 14. Continue reading

Khẩu độ (Aperture)

Khẩu độ là một trong những yếu tố quan trọng của máy ảnh. Vì thế, giá trị của nó luôn được in lên mặt trước của sản phẩm như thông số tiêu cự và khả năng zoom (hình 14)

Khẩu độ tựa như cấu trúc con ngươi cảu ta. Khi phải nhìn từ vùng bong râm sang vùng  có nhiều ành sáng. Ví dụ: ở  nàh bước ra đường dưới nắng ban trưa,…thì mắt thường hay “nhíu lại” để điều tiết phù hợp hơn trong điều kiện dư ánh sáng. Ngược lại, khi phải làm veic65 trong nới thiếu sáng, như trong nhà kho chẳn hạng thì mắt tự động “mở căng” ra để nhìn thấy rõ mọi thứ.

Máy ảnh là một thiết bị quang học nên cũng có một bộ phận dùng để hạn chế ánh sáng khi mội trường bên ngoài dư ánh sáng hoặc mở lớn ra để gia tăng việc thu nhận ánh sáng, khi đối tượng chụp ảnh trong tình trạng thiếu sáng.

Hình 17 dưới đây minh hoạ vị trí của bộ phận điều chỉnh khẩu độ. Continue reading