Tất cả phím tắt trong Windows

Phím tắt chungm

Ctrl + C

sao chép

Ctrl + X
cắt

Ctrl + V
dán

Ctrl + Z
hoàn lại tác vụ vừa thực hiện.

Delete
xóa

Continue reading

Advertisements

Chạy Windows Vista SP1 và Office 2007 trên nền web

Một vài lưu ý chung:

– Bạn phải dùng trình duyệt Internet Explorer.
– Trình duyệt phải cho chạy ActiveX và không cản popup
– Khi sử dụng tốt nhất bạn không nên dùng IE để truy cập vào trang web khác.
– Cấu hình máy tính phải ít nhất 512 MB RAM.
– Tất cả chỉ là “chạy thử cho biết” chứ không phải “sử dụng”, bạn đừng mong nó có thể thay thế cho chương trình cài đặt.
1/ Để dùng Windows Vista, bạn vào trang web Windows Vista Test Drive bấm vào Sign In, điền địa chỉ email và chọn quốc gia.
– Khi vào được giao diện chính bạn hãy chọn từng thành phần muốn chạy thử như Sidebar, Windows Explorer, IE…

2/ Với Microsoft Office 2007, bạn cần tải Test Drive tại đây hoặc tại đây

– Sau khi cài đặt, sẽ có một cửa sổ trình duyệt hiện ra.
– Bạn cũng phải chọn từng mục muốn dùng thử như với Vista SP1.

Những căn nguyên khiến máy tính “chậm như rùa” và cách khắc phục

Máy tính sau một thời gian sử dụng thì trở nên già cỗi, khởi động chậm chạp, vận hành kém và tắt máy cũng “không kém phần trang trọng”. Sau đây là những nguyên nhân khiến chiếc máy tính góp phần quan trọng trong công việc của bạn chạy chậm đến mức khó tin.

1. Start-up tải nhiều chương trình

Sau một thời gian dùng máy tính thì rất nhiều chương trình tự động “trao thân gửi phận” vào bộ phận khởi động (Start-up) của Windows. Điều đáng nói là đôi khi những ứng dụng này lại tự động “gửi gắm” vào các mục ẩn của Start-up. Càng nhiều chương trình tải trong quá trình khởi động sẽ khiến máy tính trở nên chậm chạp, đôi khi còn bị “đóng băng” hoàn toàn.

Vì thế, bạn nên hạn chế các chương trình tự động chạy trong khi khởi động để giúp máy tính tăng tốc và cũng cải thiện đáng kể hoạt động của cả hệ thống.
Và một cách khắc phục hiệu quả nhất, chính là sử dụng chương trình StartUp Faster.

2. Spyware

Các chương trình độc hại “chen lấn” trong Windows Registry và hệ thống file quan trọng là nguyên nhiên quan trọng thứ hai khiến máy tính chạy chậm như rùa.

Các chương trình này thường tự đồng cài vào máy tính của bạn mà bạn không hề biết hoặc không đồng ý trong khi bạn đang cài 1 phần mềm miễn phí. Hoặc spyware tự động “lộng hành” khi bạn truy cập vào các website độc mà không biết.

Vì thế, bạn nên gỡ bỏ các chương trình này càng sớm càng tốt để tăng tốc độ máy tính, và để phòng tránh chúng sẽ phá hủy hệ thống máy tính của bạn.

Bạn có thể gỡ bỏ bằng cách tinh chỉnh trong registry hoặc bằng cách cài phần mềm diệt spyware tự động, như Lavasoft AdAware, Spyware Doctor, Threat Fire, Spyware Terminator… Xem thêm các chương trình diệt Spyware tại đây

3. Windows Registry có vấn đề

Registry là nơi chứa các giá trị, các thiết lập mặc định của Windows. Vì thế, Registry có lỗi hay “quá tải” sẽ gây ra nhiều vấn đề về hoạt động, chẳng hạn như khởi động chậm chạp, tắt máy cũng “như rùa” và không thể đặt ở chế độ Standby hoặc ngủ đông…

Vì vậy, thỉnh thoảng bạn nên dọn dẹp, thu gọn và tối ưu hóa Registry để giúp máy tính duy trì “sức khỏe” để hoạt động tốt hơn.
Tối ưu registry để khởi động máy nhanh hơn bạn hãy sử dụng StartUp Booster
Còn quét dọn máy tính định kì bạn có thể dùng ACE Utilties, Advanced System Optimizer 2.20.4.746 + Portable, TuneUp Utilities.

4. Ổ cứng “ngổn ngang”

Sự phân đoạn file (fragmentation) – các file nằm rải rác, lộn xộn vừa tốn diện tích ổ cứng vừa khiến quá trình tập hợp lại thông tin và xếp chúng theo trật tự càng lâu. Hơn nữa, tìm được một vùng trống để lưu dữ liệu cũng mất rất nhiều công sức. Khi đó, tốc độ hoạt động của máy tính sẽ bị giảm xuống, đặc biệt là trong quá trình chuyển đổi menu và truy cập file.

Vì thế, bạn có thể cải thiện tình hình này bằng tiện ích Disk Defragmenter và Disk Cleanup, tại địa chỉ: Start menu Accessories à System Tools.
Về vấn đề này bạn hãy sử dụng chương trình iobit Smart Defrag, được đánh giá là chương trình nhanh và hiệu quả nhất hiện nay, tương thích cả Vista.

5. Phần mềm an ninh “vô dụng” chiếm dụng tài nguyên

Phần mềm an ninh không phải lúc nào và phần mềm nào cũng quét virus tốt như bạn mong muốn. Đáng tiếc là rất nhiều phần mềm bảo mật chiếm dụng nhiều bộ nhớ, tài nguyên của hệ thống. Vì thế, máy tính hoạt động rất ì ạch vì những phần mềm đó liên tục quét và kiểm tra an ninh cho hệ thống.

Do đó, để kiểm tra phần mềm an ninh đang cài trên máy tính chiếm bao nhiêu bộ nhớ của máy tính, bạn nhấn tổ hợp phím CTRL+ALT+DELETE và chọn phần Task manager. Tại danh mục hiện ra, bạn nhìn vào bảng “processes” để biết được dung lượng của nó.

6. “Tàn dư” của các chương trình đã gỡ bỏ

Việc gỡ bỏ một ứng dụng từ điều khiển control panel hay qua start menu thường bỏ sót một số bộ phận của phần mềm đó. Những “tàn dư” này có thể khiến máy tính của bạn chạy chậm hơn.

Theo dantri


Đấu giá trực tuyến hàng đầu Việt Nam

Dọn đường” để Win XP khởi động nhanh hơn (Phần 1)

Máy tính là khởi động chậm khiến người dùng khó chịu. Đây là một số cách giúp cho máy tính dùng hệ điều hành Windows XP khởi động nhanh hơn.  

Tắt những dịch vụ khởi động không cần thiết

Chạy cùng với các chương trình hệ thống lõi của Windows khi khởi động còn có một loạt dịch vụ. Một số cần cho Windows XP hoạt động, nhưng cũng có nhiều dịch vụ dành cho những tính năng có thể bạn không cần đến, có thể tắt bỏ. Nói chung, càng ít dịch vụ, Windows XP khởi động càng nhanh.

Để tắt bớt dịch vụ chạy lúc khởi động, bạn có thể làm hai cách: Cách đầu tiên là vào System Configuration Utility (Start/Run, gõ msconfig, nhấn OK). Thẻ Services cho thấy các dịch vụ chạy hoặc tắt khi máy tính khởi động. Bạn có thể tắt dịch vụ chạy khởi động bằng cách bỏ dấu kiểm của dịch vụ đó, rồi nhấn OK.

Cách thứ hai là truy cập mục quản lý các Services. Cách này được nhiều người áp dụng hơn vì giao diện của nó cung cấp nhiều thông tin và mô tả rõ hơn về chức năng của các dịch vụ. Có hai cách mở mục quản lý các Services: vào Control Panel/Administrative Tools/Services hoặc chọn Start/Run, gõ services.msc, rồi nhấn OK.

Trong mục quản lý Services, bạn nên lưu ý đến cột Startup Type. Thông tin cột này liệt kê cho thấy dịch vụ đó chạy tự động (automatic) hay tự chỉnh (manual). Các dịch vụ tự chỉnh chỉ khởi động trong Windows XP khi bạn khởi động quy trình yêu cầu dịch vụ đó. Một số quy trình khác có thể yêu cầu dịch vụ đó trong trường hợp có liên hệ phụ thuộc, trong trường hợp này dịch vụ phụ thuộc cũng sẽ khởi động. Bởi vì các dịch vụ tự chỉnh không tự động chạy khi bạn khởi động Windows XP, nên bạn không cần làm gì với các dịch vụ tự chỉnh.

Tuy nhiên, tất cả các dịch vụ được liệt kê là tự động (automatic) trong cột Startup Type sẽ chạy khi Windows XP khởi động. Như trên đã trình bày, nhiều dịch vụ trong số đó là không cần thiết, do đó bạn có thể dừng các dịch vụ tự động trừ khi bạn không biết hậu quả của việc tắt dịch vụ đó. Bạn có thể lấy thông tin về dịch vụ bằng cách nhìn vào cột Description. Dưới đây là một số dịch vụ bạn có thể dừng chạy lúc máy tính khởi động:

Cập nhật tự động (Automatic Updates): Dịch vụ này để cho Windows XP tự động kiểm tra khi máy tính nối mạng internet để cập nhật. Nếu không muốn dùng Automatic Updates, bạn có thể tắt bỏ dịch vụ này. Bạn có thể tự lên trang web của Microsoft để cập nhật cho Windows.

3 dịch vụ gồm trình duyệt máy tính (Computer Browser), DHCP Client và DNS Client có thể tắt nếu máy tính không kết nối mạng.

Error Reporting and Event Log: Tắt dịch vụ này cũng không sao, nhưng nó có thể có ích khi máy tính trục trặc (nhất là với các chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật), vì thế bạn nên để cấu hình tự động.

Fax: Nếu bạn không dùng máy tính để fax, có thể tắt dịch vụ này.

Help and Support: Nếu bạn không dùng Windows XP Help and Support Center (cũng có trên trình đơn Start), có thể tắt bỏ dịch vụ này.

IMAPI CD-Burning COM: Dịch vụ này cho phép ghi CD trên máy tính. Nếu bạn không ghi CD hoặc đang dùng phần mềm ghi CD chuyên dụng, có thể tắt bỏ dịch vụ này.

Indexing Service: Máy tính dùng dịch vụ này để chỉ mục file nhưng nếu bạn chẳng mấy khi tìm file thì dịch vụ này coi như thừa. Bạn có thể tắt và chuyển sang chế độ tự chỉnh.

Infrared Monitor: Nếu bạn không dùng các thiết bị hồng ngoại, có thể tắt dịch vụ này.

Messenger: Cho phép gửi tin cảnh báo trên mạng LAN (không giống như Windows Messenger). Nếu bạn không dùng mạng, có thể tắt dịch vụ này.

Print Spooler: Nếu bạn không in từ máy tính, có thể tắt bỏ dịch vụ này. Nếu cần in, nên để ở chế độ tự động.

Remote Registry: Cho phép người dùng từ xa sửa đổi Registry. Nếu bạn không dùng mạng, có thể tắt dịch vụ này.

System Restore Service: Dịch này cho phép bạn dùng System Restore. Nếu bạn đã tắt System Restore, không cần tắt dịch vụ này nữa.

Windows Image Acquisition: Nếu bạn không dùng máy quét (scanner) hoặc máy ảnh số, có thể tắt dịch vụ này.

Wireless Zero Configuration: Nếu không dùng các thiết bị nối mạng không dây, có thể vô hiệu dịch vụ này.

Ngoài ra, có thể còn có một số dịch vụ tự động khác tuỳ thuộc vào phần mềm và cấu hình trên máy tính. Vì thế, tốt nhất nên kiểm tra kỹ các dịch vụ. Nếu bạn kích đúp vào một dịch vụ, hộp thoại Properties xuất hiện. Trên thẻ General, ở mục Startup Type, nếu bạn muốn thay đổi dịch vụ tự động sang chế độ tự chỉnh, chọn Manual, nhấn OK. Thường thì mọi người không tắt bỏ dịch vụ trừ khi biết chắc là sẽ không bao giờ dùng đến. Tuy nhiên, cấu hình tự chỉnh sau này nếu bạn thấy cần dịch vụ đó thì lại chuyển sang tự động, như vậy giúp tăng tốc khởi động. Trước khi thay đổi dịch vụ sang chế độ tự chỉnh, hãy nhìn vào thẻ Dependencies. Thẻ này chỉ cho bạn thấy những dịch khác phụ thuộc vào dịch vụ bạn đang muốn thay đổi.
______________

Theo Đỗ Duy – ICTNews

Khai thác ứng dụng hỗ trợ từ xa rất hay của Windows

Là dân IT, việc hỗ trợ từ xa cho user là rất quan trọng. Nếu như trước đây bạn đã từng biết đến chương trình Remote Desktop thì hôm nay mình xin giới thiệu các bạn một chương trình khác của Windows là Remote Assistance (hỗ trợ từ xa).

Với Remote Desktop, khi bạn điều khiển máy từ xa thì máy đó phải bị log off. Khi đó người cần giúp đở sẽ không giao tiếp được với người dùng. Điểm hay của Remote Assistance cho phép điều khiển từ xa tương tác thực mà bên kia không bị log off. Ngoài ra chương trình này còn tích hợp cả việc chat (text và voice). Tất nhiên là bên phía máy cần help phải cho phép. Sau đây là phần hướng dẫn chi tiết:

Trên máy cần giúp đỡ sẽ tạo một file invitation và share cho máy giúp đở. Máy giúp đở khi nhận được tin có sự cố sẽ nhấn vào file này và trình hỗ trợ từ xa sẽ được chạy cho phép tương tác giữa hai máy.

Trên máy cần giúp đở (ví dụ có IP 192.168.1.100):

Trước hết bạn phải mở chức năng hỗ trợ từ xa. Vào phần Properties của My Computer, tab Remote, check vào ô “Allow Remote Assistance…”

Sau đó bạn vào Start\Help and Support để search cụm từ “Remote Assistance”

Nhấp “Invite someone to help you”

Nhấp “Send invitation as a file (Advanced) ”

Đặt password cho kết nối giữa hai máy hoặc bỏ check tại ô “Require the recipient to use a password”, sau đó nhấn “Save invitation”

Nhập tên và thời gian expire cho file hỗ trợ từ xa, Continue

Sau đó bạn lưu lại file RAInvitation vô một thư mục nào đó rồi share thư mục đó trên mạng.

Trên máy giúp đở:

Vào Start\Run… gỏ \192.168.1.100 để truy cập vào thư mục share file RAInvitation. Send To Desktop để lần sau khỏi mất công làm bước này. Chỉ việc nhấp vào short cut ngoài desktop (hoặc copy luôn cũng được).

Thực hiện:

Trên máy giúp đở, nhấn vào short cut RAInvitation trên desktop

Hộp thoại hiện ra đòi xác nhận kết nối. Bạn nhấn Yes.

Lúc này bên máy cần help cũng có yêu cầu xác nhận, bạn nhấn Yes

Sau đó trên máy cần giúp đở sẽ có hộp thoại sau:

Còn trên máy giúp đở thì có cữa sổ sau:

Ta có thể chat text hoặc voice (nút start talking) để trao đổi cụ thể hơn về sự cố nào đó hoặc cũng có thể lấy quyền điều khiển máy từ xa bằng cách nhấn nút Take Control.

Khi xong việc nhấn Disconnect để ngắt kết nối .

Như vậy là bạn đã có thể trợ giúp người khác thông qua ứng dụng này rồi đó. Remote Assistance chạy trên port 1053(tcp/udp). Bạn có thể cấu hình router forward port này để share file hỗ trợ từ xa qua Internet.

Theo blogthuthuat


Đấu giá trực tuyến hàng đầu Việt Nam

Remote Desktop qua Internet

Bạn đi báo cáo cho thầy , nhưng mà quên chương trình bạn viết ( nếu là dân IT) , hoặc chương trình bạn cần phải có trên máy thì lại không có sẵn tại nơi báo cáo , mà bạn cũng hỏng có laptop luôn mới đau đầu chứ . Làm sao đây ? Có cách nào đem máy tính của bạn lên thì tốt quá. Nếu nơi bạn báo cáo có Internet tốc độ tàm tạm , và nhà bạn có modem hỗ trợ Router và cho cấu hình NAT thì mình xin hiến kế cho bạn đây… Remote Desktop qua mạng Internet , dễ ẹc …Green with Envy

Đầu tiên bạn phải cho phép Remote desktop. Bạn vào My Computer bấm chuột phải, chọn Properties

chọn Tab Remote và chọn Allow users to connect remote this computer. Bạn lưu ý là phải đặt password vào account bạn muốn remote đến:

Sau đó bạn phải tắt firewall trên máy đi ( chả sao đâu ) :

Ban chon Off nhe!

Sau đó bạn vào router , thường thì là http://192.168.1.1, mặc định user/ pass thường là admin/admin. Mình sử dụng Router LinkPro.
Router của bạn chắc khác, nhưng cũng tương tự , bạn tìm chức năng NAT:

Chọn Virtual Server , sau đó thêm một Rule Index và nhập vào địa IP của máy cục bộ của bạn , nhập port 3389 vào , đây là port của chương trình Remote Desktop:

Nhap IP của máy local và port là 3389 . Lưu ý nếu bạn sử dụng DHCP và mạng của mạng có nhiều máy thì có khả năng là bạn không thực hiện được. Bản phải cấu hình lại cho IP local của bạn một địa chỉ cố định

Tiếp sau đó là bạn xem IP public của mình là bao nhiêu vào trang http://showip.com nhé hoặc là vào router xem cũng được, ghi vào giấy để đem đi ( nhớ hỏng tắt máy nhé, để log off thôi ).

Khi bạn đến nơi nào đó có mạng Intenet bạn mở Remote Desktop lên và nhập IP public đó vào ,user cần Remote đến và pass . Thế là xong

Theo blogthuthuat


Đấu giá trực tuyến hàng đầu Việt Nam

Remote Desktop bằng port bất kỳ

Thủ thuật này rất tiện lợi cho những ai muốn remote desktop về máy tính tại nhà và qua mặt firewall. Port mặc định của Remote Desktop là 3389, để đổi port Remote Desktop bạn làm như sau:

Bước 1: Vào Start\Run gõ lệnh RegEdit

Bước 2: Theo đường dẫn sau

HKEY_LOCAL_MACHINE\System\CurrentControlSet\
Control\TerminalServer\WinStations\RDP-Tcp\

Sau đó bấm chuột phải chọn Modify.

Bước 4: Chuyển Hexadecimal thành Decimal và nhập vào giá trị port mà bạn muốn dùng, thường thì các firewall tại một số cơ quan chỉ cho phép 80 (http).

Bước 5: Sau khi sửa lại port bạn restart máy tính. Như vậy máy đóng vai trò Server đã lắng nghe trên port mới.

Bước 6: Máy client muốn Remote vào máy Server thì cần phải chỉnh định thêm port mới, ví dụ 192.168.1.4:80

Lưu ý nếu bạn muốn Remote Desktop qua Internet thì cần phải NAT router trước nhé

Theo blogthuthuat


Đấu giá trực tuyến hàng đầu Việt Nam

Một số phím tắt trong Windows

Đây là một số phím tắt thông dụng giúp bạn thao tác nhanh hơn khi sử dụng Windows:

Phím tắt Công dụng
Alt + F4 Cái này đóng một chương trình đang mở
Alt + Print Screen Chụp hình của một cửa sổ đang hoạt động vào Clipboard.
Alt + Enter Bạn chọn 1 file hay thư mục và nhấn tổ hợp phím này thì nó sẽ hiển
thị hộp thoai Properties của nó. Ngoài ra khi bạn chạy một chương trình
DOS và nhận Alt+Enter thì nó sẽ fullscreen cái chương trình đó lên
Alt + Spacebar Mở menu phím tắt trên thanh tiêu đề của cửa sổ đang mở.
Alt + Tab Chuyển đến cửa sổ đang mở kế tiếp
Alt + [Ký tự gạch chân] Các ký tự được gạch chân trong các menu có thể được sử dụng trong
các phím tắt. Ấn ALT +[Ký tự được gạch chân] để mở menu tương ứng và sau
đó ấn ký tự được gạch chân khác để thực thi lệnh tương ứng. Ví dụ, trong
Microsoft Word Ký tự “F” được gạch chân trong menu File trên thanh menu
. Ấn Alt+F để mở menu File, sau đó ấn “C” để thực thi lệnh đóng cửa sổ
đang hoạt động
Windows logo key + BREAK Mở mục System Properties trong Control Panel.
Windows logo key+D Tương tự nút Show Desktop.
Windows logo key+E Mở Windows Explorer
Windows logo key+F Mở mục tìm kiếm
CTRL+Windows logo key+F Tìm kiếm một máy tính trong mạng
Windows logo key+F1 Khởi động phần trợ giúp của Windows
Windows logo key+M Thu nhỏ cửa sổ đang mở
Shift+Windows logo key+M Phục hồi các cửa sổ đă được cực tiểu hóa sử dụng phím tắt “Windows
logo key+M”
Windows logo key+R Hiển thị hộp thoại Run
Windows logo key+Tab Chọn chương trình đang mở kế tiếp được liệt kê trong
thanh tác vụ; tiếp tục giữ phím Windows logo trong khi ấn và nhả phím
TAB để chọn các chương tŕnh liền nhau theo thứ tứ trên thanh taskbar. Ấn ENTER để kích hoạt chương tŕnh
đă chọn.
Windows logo key+Shift+Tab Chọn chương trình đang mở đằng trước được liệt kê trên thanh tác vụ.
Ấn và giữ phím Windows logo và phím SHIFT đồng thời, trong khi đó ấn và
nhả phím TAB để chọn các chương tŕnh có trước theo thứ tự. Ấn ENTER để
kích hoạt chương tŕnh đă chọn
Ctrl + Esc Mở menu Start lên
Ctrl + Alt + Del Mở task manager
Ctrl + Shift + Esc Mở ngăn Performance trong task manager


Đấu giá trực tuyến hàng đầu Việt Nam

Mã hoá thư mục hiệu quả trên Windows.

Đa số các phần mềm mã hóa tập tin, thư mục đều chỉ có thể dùng cố định trên một máy tính. Một số ít chương trình có thể chạy trên USB nhưng lại có nhược điểm là muốn mã hóa dữ liệu bạn phải luôn mang theo chương trình gốc theo.

Nhưng nếu sử dụng Folder Encryption 5.2.8 (FE) bạn sẽ không phải vất vả như vậy. Do có thể chạy ngay không cài đặt nên bạn có thể dễ dàng mã hóa dữ liệu trên bất cứ phương tiện lưu trữ nào. Và FE luôn có chương trình giải mã trong mỗi thư mục được mã hóa nên bạn có thể giải mã mà không cần phải đem theo chương trình gốc. Thư mục do FE mã hóa cũng rất an toàn, bạn không thể xem, sao chép, xóa hoặc thậm chí xem dung lượng của thư mục mà FE đã mã hóa! FE hoàn toàn miễn phí và dung lượng chỉ 300 KB mà thôi, bạn có thể tải tại http://www.thongtincongnghe.com/software/216.

1/Mã hóa: Cách mã hóa bằng FE rất đơn giản, tại giao diện chính bạn chọn Encrypt Current’s để mã hóa thư mục hiện tại hoặc Encrypt other’s rồi chọn thư mục cần mã hóa. Cuối cùng bạn nhập mật khẩu vào hai ô Password và Confirm rồi bấm Encrypt để mã hóa. Tốc độ mã hóa của FE rất nhanh, sau khi mã hóa bạn sẽ không thấy tất cả các tập tin trong thư mục đâu cả, mà chỉ thấy tập tin lockdir.exe, đây là tập tin để bạn giải mã thư mục này. Nếu có ai cố gắng xóa, di chuyển hay sao chép thư mục này mà không có mật khẩu sẽ gặp thông báo lỗi.

2/ Giải mã: bạn kích hoạt tập tin lockdir.exe trong thư mục đã được mã hóa để tiến hành giải mã. Bạn hãy nhập mật khẩu vào khung Password rồi bấm Decrypt để giải mã, ngoài ra bạn còn có 2 lựa chọn.

  • Complete: giãi mã hoàn toàn các tập tin.
  • Customize: nếu chọn mục này rồi bấm Decrypt, bạn sẽ có thêm lựa chọn đó là Minimize To Tray, với lựa chọn này, thư mục sẽ tạm thời được giải mã cho bạn sử dụng và FE sẽ thu nhỏ xuống system tray.
  • Sau khi sử dụng xong thư mục này, bạn hãy mở lại FE từ systemtray rồi chọn Restore Encrypted để phục hồi tình trạng mã hóa cho thư mục (với mật khẩu cũ) hoặc chọn Cancel Decrypted để giải mã hoàn toàn thư mục này. Đây là tính năng rất hay giúp bạn có thể mã hóa rồi lại giải mã mà không mất công nhập mật khẩu nhiều lần.

Lưu ý: Nếu tập tin lockdir.exe trong thư mục mã hóa bị xóa mất, bạn có thể chép tập tin gốc của chương trình FE vào thư mục đó rồi tiến hành giải mã.

Theo thongtincongnghe

19 bí mật ẩn sau Windows XP

1. Để biết thông tin về tình trạng máy

Nhấn phím Windows+R, gõ cmd và nhấn enter, sau đó gõ tiếp syteminfo. Nếu muốn lưu các thông tin này, nhập lệnh systeminfo > info.txt để tạo file text với tên info.txt. (Chỉ áp dụng đối với phiên bản Professional Edition).

2. Xoá file hoàn toàn khôngqua Recycle Bin

Nhấn phím Windows+R, gõ gpedit.msc, chọn User Configuration >Administrative Templates >  Windows Component> Windows Explorer và chọn Do not move deleted file trong các thiết lập của Recycle Bin. Ngoài ra, còn khá nhiều tùy chọn về giao diện hay hệ thống trong gpedit. Một số có thể làm ngừng các hoạt động của máy tính nếu bạn bất cẩn. (Chỉ áp dụng đối với phiên bản Professional Edition

3. Khóa máy tính tạm thời chỉ bằng click đúp chuột

Nhấn chuột phải lên desktop, chọn new > shortcut và nhập rundll32.exe user32.dll,LockWorkStation trong mục Location. Đặt tên shortcut tùy chọn. Mỗi khi cần khóa máy tính, chỉ cần click đúp vào shortcut này. (Tất nhiên, bạn vẫn có thể sử dụng tổ hợp phím Windows + L)

4. Đôi khi có những phần mềm được đặt chế độ ẩn gây bất tiện khi tháo bỏ như Windows Messenger

Để khắc phục, dùng Notepad hay Edit để chỉnh sửa file text ở C:/windows/inf/sysoc.inf, tìm và xóa bỏ từ hide. Từ nay về sau, bạn có thể gỡ bỏ các phần mềm đó bằng cách vào Control Panel >Add or Remove Programs>Add/Remove Windows Components.

5. XP cũng có một số câu lệnh mới khá thú vị dùng cho tệp DOS

-eventcreateeventtriggers để khởi tạo và theo dõi các hoạt động của hệ thống
-typeperf giám sát hoạt động của nhiều hệ thống con (subsystems) khác nhau
-schtasks quản lý các tác vụ đã được lên lịch trong mục All Programs > Accessories > System Tools > Scheđule Tasks

6. XP hỗ trợ giao thức IPv6

Tuy nhiên, người sử dụng chỉ có thể thử nghiệm trên mạng LAN do hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ Internet vẫn chưa hỗ trợ IPv6. Để tìm hiểu về IPv6 nhấn Windows+R, gõ ipv6 install… (lệnh này an toàn và không ảnh hưởng đến các thiết lập mạng đang sử dụng), nhập tiếp ipv6/?

7. Có thể ngừng các tác vụ đang hoạt động trên máy với lệnh taskill /pid với số các tác vụ, hoặc lệnh tskill với số lượng các chương trình đang hoạt động. Tương tự, lệnh tasklist cung cấp thông tin về các hoạt động của hệ thống.

8. File ZIP trog XP được coi như một thư mục (folder), khá tiện lợi đối với các máy có cấu hình cao. Đối những máy tốc độ chậm hơn, có thể yêu cầu XP coi các file ZIP độc lập với hệ thống bằng câu lệnh regsvr32 /u zipfldr.dll .Ngược lại, để hủy câu lệnh trên nhập regsvr32 zipfldr.dll.

9. ClearType là một chương trình khử răng cưa cho phông chữ được mặc định là không hoạt động. Những người dùng DOS hay có vấn đề về thị lực nên sử dụng thử chương trình này. Để khởi động ClearType, nhấn phải chuột lên màn hình desktop, chọn Properties, Appearance, Effects, chọn ClearType từ menu thả thứ 2 và nhấn OK. Chương trình đặc biệt hoạt động hiệu quả trên máy tính xách tay. Để ClearType hoạt động ngay từ màn hình Wellcome, nhấn Windows+R, gõ regedit, tìm HKEY_USERS>.DEFAULT>Control Panel>Desktop>FontSmoothingType, chuyển từ giá trị mặc định thành 2.

10. Chạy Remote Assisstance hỗ trợ máy tính cài tường lửa sử dụng NAT (network address translation)

Khi nhận được thư mời Remote Assisstance, chỉnh sửa phần địa chỉ NAT trong phần RCTICKET, ví dụ 192.168.1.10, thay thế địa chỉ này bằng IP thật của máy được trợ giúp (sử dụng trang www.whatismyip.com để xem) – lưu ý, máy được trợ giúp phải mở cổng 3389 trên tường lửa và chuyển tiếp tới máy trợ giúp.

11. Chạy một chương trình với nhiều tài khoản song song mà không cần phải đăng nhập nhiều lần

Nhấn chuột phải vào biểu tượng chương trình và chọn Run As… điền username và mật khẩu của tài khoản muốn sử dụng. Mẹo này khá hữu hiệu khi cài đặt phần mềm mà hầu hết hiện nay đều yêu cầu đăng nhập quyền Administrative.

12. Windows XP thường khá phiền phức khi không ngừng yêu cầu cập nhật tự động, đăng ký một Passport, hay sử dụng Windows Messenger v.v…

Tuy việc cập nhật không tốn nhiều thời gian, bạn có thể ngừng các yêu cầu này từ XP nều muốn : nhấn Windows+ R, gõ regedit, theo đường dẫn HKEY_CURRENT_USER>Software>Microsoft>Windows>Current Version>Explorer>Advanced tạo mới một giá trị DWORD có tên là EnableBalloonTips và gán giá trị 0.

13. Vào thẳng tài khoản không nhập username và password

Nhấn Windows+R, gõ control userpasswords2. Tại tab Users, bỏ ô chọn Users Must Enter A User Name And Password To Use This Computer và nhấn OK. Tại hộp thoại Automatically Log On điền username và mật khẩu của tài khoản muốn sử dụng.

14. Internet Explorer có thể tự động xóa các file lưu tạm khi được yêu cầu. Mở trình duyệt, chọn Tools> Internet Options, tại thẻ Advanced,  mục Security chọn ô Empty Temporary Internet Files và đóng trình duyệt.

15. Có thể thay thế các đèn LED của card mạng với chương trình miễn phí Network Activity Light trong XP

Nhấn phải chuột vào biểu tượng My Network Places trên màn hình desktop, chọn Properties. Tiếp tục nhấn phải chuột vào phần mô tả của mạng LAN hay kết nối dial-up, chọn Properties, chọn biếu tượng Show trong phần thông báo. Ngay bên phải trên thanh taskbar của màn hình sẽ xuất hiện một biểu tượng nhỏ nhấp nháy khá vui mắt mỗi khi sử dụng mạng.

16. Để điều chỉnh tốc độ sử dụng của thanh menu Start, bạn có thể thay đổi giá trị trong  registry HKEY_CURRENT_USER> Control Panel>Desktop>MenuShowDelay từ mặc định ban đầu là 400 xuống thấp hơn, ví dụ là 0.

17. Windows Explorer cũng có thể đổi tên file hàng loạt. Bôi chọn nhiều file trên một cửa số, nhấn phải chuột vào một trong số đó và rename. Tất cả các file sẽ được đổi tên giống nhau và có các con số trong ngoặc đơn để phân biệt. Ngoài ra, trong một danh mục, các biểu tượng có thể được sắp xếp thành từng nhóm bằng cách chọn View> Arrange Icon By> Show In Groups.

18. Windows Media Player có thể hiện bìa đĩa (cover) của album nhạc mỗi khi play các bài hát trong album đó – với điều kiện chương trình có thể tìm được cover của bài hát từ Internet. Nếu không, người sử dụng có thể tự đặt cover của album vào cùng một thư mục với các file nhạc. Lưu ý đặt tên cho cover là folder.jpg, WMP sẽ tự động hiển thị hình này mỗi khi chơi bài hát

19. Để gọi hộp thoại System Properties, nhấn tổ hợp phím Windows + Break. Tương tự, tổ hợp Windows + D để hiển thị màn hình desktop và tổ hợp Windows key + Tab để di chuyển giữa các nút trên thanh Taskbar.

Theo dantri