Google – thương hiệu 100 tỉ USD đầu tiên thế giới

TTO – Google có giá trị thương hiệu cao hơn Microsoft 25%, lập kỉ lục trở thành thương hiệu đầu tiên thế giới ước tính có trị giá vượt ngưỡng 100 tỉ USD.

Theo bảng xếp hạng top 100 thương hiệu mạnh nhất toàn cầu mới do Công ty tư vấn – nghiên cứu thị trường Millward Brown Optimor và tạp chí Financial Times  công bố, Microsoft xếp hàng thứ 2, nhưng thương hiệu này chỉ khoảng 76,2 tỉ USD.

Lần đầu tiên hãng sản xuất nước ngọt hàng đầu thế giới Coca-Cola lên vị trí thứ 3 với trị giá thương hiệu ước tính 67,6 tỉ USD.

Bất kể bối cảnh u ám của nền kinh tế thế giới, giá trị thương hiệu của top 100 tên tuổi lớn nhất trên thế giới vẫn tăng lên 2% so với năm ngoái, đạt 2 nghìn tỉ USD – mức tăng trưởng biên là 1,7%.

Sau hơn 10 năm khởi nghiệp, thương hiệu Google đã vượt ngưỡng 100 tỉ USD và dẫn đầu thế giới.

Continue reading

Advertisements

Google ra đời như thế nào?

Google đã được “thai nghén” như thế nào và có một “tuổi thơ” ra sao khi “bố mẹ” của nó – hai nhà sáng lập – ban đầu có vẻ “không ưa nhau”. Larry nghĩ Sergey kiêu ngạo. Sergey nghĩ Larry khó chịu. Nhưng mối ám ảnh về những đường liên kết (link) lại đưa họ đến với nhau, cùng sáng lập ra một tập đoàn tìm kiếm nổi tiếng.

Hai nhà sáng lập cãi nhau liên miên

Tất cả bắt đầu bằng một cuộc tranh cãi. Lần đầu tiên gặp Larry Page vào mùa hè 1995, Sergey Brin là một sinh viên năm thứ 2 khoa Khoa học máy tính tại Đại học Stanford. Bản chất thích đàn đúm, giao du, Brin đã xung phong làm “sinh viên tình nguyện”, giúp đỡ các sinh viên năm thứ nhất trong quá trình nhập học. Page, một sinh viên kỹ thuật của trường Đại học Michigan, lọt vào nhóm của Brin.

“Ấn tượng ban đầu” không tốt tí nào. Hai người liên tục cãi nhau, tranh luận, về nhiều vấn đề, trong đó có giá trị của việc quy hoạch đô thị. “Brin sống rất xã hội, giỏi giao tiếp, cậu ấy thích gặp gỡ mọi người”, Page nhớ lại, trái ngược với tính trầm lặng, ít nói của Page. “Tôi nghĩ cậu ta thật ngạo mạn. Cậu ta có những ý kiến rất mạnh mẽ về mọi thứ”.

“Cả hai chúng tôi đều nhận thấy người kia kiêu căng”, Brin phản pháo khi được biết về phản ứng của Page. “Nhưng chúng tôi cùng nói đó chỉ là đùa cợt. Rõ ràng, chúng tôi đã dành nhiều thời gian nói chuyện với nhau, vì thế mới có sản phẩm chung. Chúng tôi luôn đùa cợt để mọi thứ tiến lên”. Lẽ ra Page và Brin đã “choảng” nhau, nhưng cả hai đều cùng làm cho mũi kiếm của nhau sắc bén hơn mà thôi.

Bắt đầu từ bài luận văn của Page

Mấy tháng sau, Page bắt đầu tìm kiếm đề tài cho bài luận văn của mình. Đây là một quyết định quan trọng, khi Page được bố – là một giáo sư khoa học máy tính ở Michigan State, nói rằng bài luận văn có thể hình thành nên toàn bộ sự nghiệp của người viết. Page đã chọn ra khoảng 10 ý kiến và nhận thấy bị thu hút bởi World Wide Web.

Page nhận thấy web hấp dẫn nhờ các tính chất toán học của nó. Mỗi máy tính đều có một điểm nút (node) và mỗi đường liên kết trên một trang web lại có một kết nối giữa các điểm nút – đây là một cấu trúc đồ thị khổng lồ. World Wide Web, Page lý luận, có thể là một đồ thị lớn nhất trên trái đất và nó đang phát triển ở tốc độ quá nhanh. Page bắt đầu suy nghĩ về các đường liên kết cấu trúc của Web.

Tháng 1/1996, Page bắt tay tiến hành dự án công cụ tìm kiếm đầu tiên mang tên BackRub. Lúc đó, Web đã có khoảng 10 triệu tài liệu và một số lượng các đường link (không biết bao nhiêu) liên kết giữa những tài liệu này. Chưa biết chính xác sẽ đi tới đâu, Page bắt đầu xây dựng dự án riêng của mình.

Sự phức tạp và quy mô của dự án BackRub đã thu hút Brin. Là một người thông minh từng tham gia nhiều dự án, Brin phát hiện ra tiền đề nằm sau BackRub thật quyến rũ, hấp dẫn. “Tôi đã nói chuyện với nhiều nhóm nghiên cứu” ở trường học, Brin nhớ lại, “và đây là dự án hấp dẫn nhất mà tôi thích làm, vừa vì nó liên quan đến Web – đại diện cho kiến thức con người – vừa vì tôi thích Page”.

Tháng 3/1996, Page trình diễn dự án của anh với chỉ 1 trang duy nhất – là trang chủ – tại trường Stanford. Rất may, giờ đây Page đã làm việc với Brin. Brin là con trai của một nhà khoa học NASA và một giáo sư toán học của trường Đại học Maryland. Anh sinh ra ở Nga, di cư đến Mỹ cùng với gia đình năm 6 tuổi. Khi Brin còn là một học sinh phổ thông, anh được công nhận là một thần đồng toán học. Anh rời khỏi trường trung học sớm 1 năm để vào học trường Đại học Michigan. Khi tốt nghiệp, anh ngay lập tức đăng ký vào trường Stanford. Ở đây, với tài năng của mình, Brin được phép “không phải làm gì”. “Thật tuyệt”, Brin từng nói, đặc quyền này cho phép Brin tham gia vào các lớp học “phi khoa học” như chèo thuyền, bơi, lặn. Và anh tập trung năng lực thông minh của mình vào những dự án hấp dẫn hơn là vào việc học tập ở trường.

Cùng nhau, Page và Brin tạo ra một hệ thống xếp hạng (ranking), ban thưởng cho các website có nhiều đường liên kết đến và trừng phạt những trang không có đường liên kết. Chẳng hạn, nhiều trang web liên kết đến IBM.com. Những đường link này có thể của một đối tác kinh doanh trong ngành công nghệ, hay một nhà lập trình thiếu niên vừa mua chiếc ThinkPad nhân lễ Giáng Sinh. Ở góc độ con người, đối tác kinh doanh là một liên kết quan trọng với vị trí IBM trên thế giới. Nhưng làm thế nào một thuật toán hiểu được điều đó?

Đột phá của Page và Brin là tạo ra một thuật toán – tên là PageRank. Trở lại ví dụ trên, giả sử chỉ một số trang link đến trang của cậu bé thiếu niên. Ngược lại, có hàng ngàn trang link đến Intel và những trang này, tính trung bình, lại có hàng ngàn trang khác link đến họ. Lúc này, PageRank sẽ xếp trang của nhà lập trình thiếu niên ít quan trọng hơn trang web của Intel.

Dần dà, BackRub trở thành một công cụ tìm kiếm. Page và Brin nhận thấy các kết quả của BackRub tốt hơn hẳn so với các công cụ tìm kiếm lúc bấy giờ – là AltaVista và Excite, luôn đưa lại kết quả không liên quan. “Những công cụ tìm kiếm AltaVista và Excite chỉ để ý đến chữ (text), mà không để ý đến tín hiệu khác”, Page nhớ lại. Tín hiệu khác chính là PageRank. Lúc này, Page và Brin biết họ cần phải tiến tới một cái gì to lớn hơn.

Hai nhà sáng lập đã đặt tên mới cho công cụ tìm kiếm của họ là Google. Họ công bố phiên bản Google đầu tiên trên trang web của trường Đại học Stanford vào tháng 8/1996 – 1 năm sau khi 2 người gặp nhau.

“Tuổi thơ” Google phải đi vay, mượn, ở nhờ

Google trở nên nổi tiếng trong trường Stanford. Như được tiếp thêm năng lượng, Brin và Page bắt đầu nâng cấp dịch vụ. Họ nhanh chóng nhận ra các công cụ tìm kiếm cần phải có lượng máy tính lớn. Không có tiền để mua máy mới, họ đã xin, mượn một ổ cứng từ phòng thí nghiệm mạng, một chiếc CPU thừa của khoa. Dùng căn phòng ngủ tập thể trong trường đại học của Page làm phòng thí nghiệm máy và sau khi chất đầy thiết bị trong phòng ngủ của Page, họ lại chuyển phòng ngủ của Brin thành một văn phòng và trung tâm lập trình.

Họ nối mọi thứ của mình vào mạng lưới băng rộng của trường Đại học Stanford. Lúc đó, dự án của hai người “ngốn” gần nửa băng tần của toàn bộ mạng Stanford, trong khi Stanford là một trong những trường được nối mạng tốt nhất trên hành tinh. Vào mùa thu năm 1996, dự án của họ liên tục khiến kết nối Internet của Stanford bị đứt. Thực tế, công cụ tìm kiếm của hai người đã dùng trang web của trường Đại học Stanford với tên miền google.stanford.edu.

“Chúng tôi may mắn đã được nhiều người ở Stanford ủng hộ”, Page nhớ lại. “Họ không hề khiển trách gì về những nguồn tài nguyên mà chúng tôi sử dụng quá nhiều”.

Giáo sư Jon Kleinberg của trường Đại học Cornell rất quan tâm đến tác phẩm của Page và Brin. Ông đã khuyên Page công bố nghiên cứu về PageRank trên một tờ báo khoa học. Nhưng Page nói anh ngại công bố, xuất bản. Lý do là “anh sợ một ai đó có thể ăn cắp ý tưởng của anh và với PageRank, Page cảm tưởng như anh đang có một công thức bí mật”, Kleinberg nói.

Mặt khác, Page và Brin cũng muốn trải qua những gian khổ của việc thành lập và điều hành một công ty. Tuy vậy, cuối cùng họ cũng đã công bố tác phẩm của mình và tên miền google.com được đăng ký vào ngày 15/9/1997, theo trang web bách khoa toàn thư wikipedia. Hai người chính thức thành lập công ty Google Inc vào ngày 7/9/1998 tại gara của một người bạn ở California. Văn phòng của họ còn có cả một chiếc máy giặt, một máy sấy khô và một chiếc bồn tắm nước nóng. Ngoài ra, văn phòng còn có chỗ đỗ xe cho nhân viên đầu tiên mà Google tuyển dụng: Craig Silverstein – chính là giám đốc công nghệ hiện nay của Google.

Lúc đó, trang web Google.com, vẫn đang là bản beta, nhận khoảng 10.000 câu lệnh tìm kiếm mỗi ngày. Báo chí bắt đầu để ý đến trang web mới tinh luôn đưa ra những kết quả tìm kiếm liên quan với chủ đề. Các bài báo tán dương Google xuất hiện trên USA Today và Le Monde. Tháng 12 năm đó, tạp chí PC Magazine gọi Google là một trong số top 100 website và công cụ tìm kiếm của họ trong năm 1998. Ngày 21/9/1999, nhãn hiệu beta mới được gỡ khỏi Google.com. Google dần vươn ra thế giới.

Tên “Google” xuất phát từ một lỗi chính tả của từ “Googol”, nghĩa là con số 1 được theo sau 100 con số 0. Ngày nay, “google” đã trở thành một động từ. Trong từ điển Oxford English Dictionary năm 2006, từ “google” được định nghĩa là “dùng công cụ tìm kiếm Google để lấy thông tin trên mạng Internet”.

Theo thongtincongnghe.com

12 “viên ngọc” ẩn chứa trong Google

12 “viên ngọc” ẩn chứa trong Google

ICTnews – Hàng triệu người dùng Google hàng ngày để tìm kiếm, nhưng có rất nhiều “viên ngọc” ẩn chứa trong bộ máy tìm kiếm này không phải ai cũng biết khai thác.

Tìm trong một trang web. Google cho phép giới hạn tìm kiếm nội dung theo một trang web cụ thể nào đó bằng cách nhập địa chỉ trang web trước từ khóa tìm kiếm. Ví dụ, tìm từ khóa “di động” trên trang ICTnews.vn, bạn có thể nhập “site:www.ictnews.vn di động”, Google sẽ chỉ tìm các thông tin có từ khóa này trong trang ICTnews.vn.

Tính toán bằng Google. Có thể cộng, trừ, nhân, chia nhanh chóng trên Google, đơn giản sử dụng biểu tượng +, -, *, / trực tiếp vào ô tìm kiếm. Ví dụ, 5+5, nhấn “enter” sẽ ra kết quả.

Chuyển đổi đơn vị. Google có thể chuyển đổi các đơn vị đo hay giữa các loại tiền tệ khác nhau. Ví dụ, nếu bạn muốn biết 12 km bằng bào nhiêu dặm anh (yard), nhập cụm từ “ 12 kilometers in yards” sẽ có có ngay kết quả. Tương tự như vậy, có thể chuyển đổi các đơn vị tiền tệ khác nhau, ví dụ “12 USD in peso” (peso là đơn vị tiền của Mexico).

Tìm theo thời gian . Đây là tính năng ít người biết tới. Ví dụ, nhập từ “sách hay 2002..2007”, Google sẽ chỉ liệt kê những cuốn sách hay xuất bản trong giai đoạn từ năm 2002 đến 2007.

Tìm định nghĩa. Sử dụng toán tử “define:” để nhanh chóng tìm định nghĩa của từ nào đó. Ví dụ, nhập từ “define:IT”, Google sẽ liệt kê một loạt địa chỉ và đường link định nghĩa về IT.

Tìm nhạc. Sử dụng toán tử “Music” để tìm kiếm nội dung liên quan đến nhạc. Ví dụ, nhập “music:love story”, Google sẽ liệt kê hàng trăm địa chỉ cung cấp bản nhạc hoặc alibum chưa bài hát này. Hiện tại, Google chưa hỗ trợ tìm nhạc (bài hát) của Việt Nam.

Tìm phim. Tương tự như tìm nhạc, Google cho phép người dùng tìm tựa phim bằng toán tử “movie:”. Ví dụ, nhập từ “music:titanic”, Google sẽ liệt kê danh sách các thành phố và các rạp chiếu bóng có chiếu phim này. Nhưng cũng như tìm nhạc, Google chưa phát triển dịch vụ tìm phim của Việt Nam và các rạp chiếu phim của Việt Nam.

Tìm theo loại file. Nếu bạn chỉ muốn tìm các file pdf (.pdf), Word hay Excel, có thể sử dụng toán tử “filetype:” trước loại file và từ khóa tìm kiếm. Ví dụ, tìm các các file tài liệu PDF liên quan đến từ khóa ICT, gõ “filetype:pdf ICT”.

Mở những trang web không còn tồn tại. Không có gì khó chịu hơn khi đã tìm được một trang có vẻ như nó chứa mọi thứ bạn cần, nhưng sau đó bạn nhận thấy trang web đó không còn tồn tại. Với Google, bạn có thể lục lại quá khứ, nhờ sự giúp đỡ của tính năng cất giữ (cache) của Google. Google lưu một bản sao của các trang web mà bộ máy tìm kiếm này chỉ mục. Vì vậy, những trang web không còn tồn tại vẫn có thể xem được bằng cách kích vào đường link Cached (hoặc “Đã lưu trong bộ nhớ cache” với giao diện tiếng Việt) bên cạnh kết quả tìm kiếm. Những trang web không còn tồn tại có giao diện hơi lạ vì Google thường chỉ lưu văn bản, không lưu hình ảnh.

Dịch đoạn hoặc cả trang web. Nếu bạn cần đọc một trang web nào đó hiển thị bằng ngôn ngữ bạn không biết, Google có thể là người phiên dịch cho bạn. Hiện nay, Google hỗ trợ dịch sang rất nhiều loại ngôn ngữ phổ biến nhưng chưa có tiếng Việt. Google hiện có hai lựa chọn dịch: đoạn văn hoặc dịch cả trang web. Kết quả của dịch tự động của Google không chính xác lắm nhưng cũng đủ để bạn tóm lược được nội dung chính. Vào địa chỉ google.com/translate để dùng công cụ này của Google.

Tìm theo danh mục ( Directory). Giống như những trang vàng (Yellow Pages), danh mục của Google phân loại nội dung trên mạng thành các loại nội dụng để người dùng tìm theo. Nếu bạn muốn tìm kiếm trên nhiều trang web về một chủ đề, dùng Directory là cách đơn giản và hiệu quả nhất, ví dụ như chủ đề game, điện tử (electronics) hay y học (health). Có thể truy cập tiếp tại địa chỉ directory.google.com.

Tìm theo nhóm tin. Nhóm tin trên Internet là cách để những người có cùng sở thích giao lưu với nhau bằng cách gửi lên thông tin, qua đó mọi người quan tâm có thể đọc được. Nhóm tin của Google rất hữu ích nếu bạn muốn tìm tìm kiếm một lời khuyên về một chủ đề cụ thể nào đó. Thay vào việc phải đọc tất cả các thông điệp trên các nhóm tin, bạn có thể nhờ Google tìm chúng bằng cách gõ nội dung tìm kiếm trên các nhóm tin. Truy cập trực tiếp vào tìm kiếm theo nhóm tin tại địa chỉ groups.google.com.

Để google đánh chỉ mục cho blog của bạn

Cách đưa blog của bạn vào google để nó có thể xuất hiện trong các kết quả tìm kiếm. Hiện tại thì chỉ áp dụng cho Google Blogger

Bài tương tư:

Để blog của bạn lọt vào kết quả tìm kiếm của yahoo

Đưa blog của bạn vào MSN search

Trong những năm gần đây, một dạng trao đổi thông tin mới ra đời và phát triển với tốc độ rất nhanh, đó là blog (hay weblog). Blog thoạt đầu được phát triển như một dạng nhật ký trực tuyến với những suy nghĩ cá nhân được đưa lên web. Hiện nay, ứng dụng blog trở nên phong phú hơn và dễ thấy nhất là việc dùng blog làm một kênh thông tin nội bộ cũng như bên ngoài công ty.

Một trong các dịch vụ blog miễn phí khá nổi tiếng là dịch vụ Blogger của Google (www.blogger.com), nó cho phép bạn tạo và duy trì các blog trên máy chủ Blogger. Bài viết này không trình bày cách tạo một blog trên Blogger (việc này khá đơn giản và đã có khá nhiều bài viết hướng dẫn), mà chỉ hướng dẫn bạn cách đưa blog vào Google Sitemaps, để Google đánh chỉ mục cho blog của bạn nhằm tăng cơ hội xuất hiện trong kết quả tìm kiếm của Google.

Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu qua về Google Sitemaps. Google Sitemaps hiện đang ở bản beta, được Google phát triển với mục đích cung cấp một cách thức đơn giản cho người dùng mô tả website của họ. Thông qua việc cung cấp cho Google Sitemaps thông tin của site (cấu trúc, các trang web quan trọng cũng như mức độ thay đổi của chúng…), bạn đã hướng dẫn cho công cụ dò tìm (“spider”) của Google cách đọc thông tin và đánh chỉ mục cho website của bạn.

Dưới đây là hướng dẫn chi tiết cách đưa blog vào Google Sitemaps:

Bước 1: Đăng nhập vào Google Sitemaps (http://www.google.com/webmasters/sitemaps/siteoverview) thông qua tài khoản Google của bạn.
Ngay ở đầu trang bạn sẽ thấy ô nhập liệu để nhập site cần đánh chỉ mục. Hãy nhập vào đó địa chỉ (URL) blog của bạn (ví dụ: http://khanhle.blogspot.com/)

Sau đó nhấn nút OK. Blog của bạn sẽ được thêm vào tài khoản như hình dưới:

Bước 2: Xác thực quyền của bạn trên blog vừa nhập
Nhấn vào liên kết Verify, bạn sẽ được chuyển đến trang có hình như sau:

Google cung cấp hai phương pháp xác thực. Tuy nhiên ta chỉ chọn phương pháp thứ hai: Add META tag, vì đây là phương pháp duy nhất mà Google Blogger hỗ trợ.

Sau khi chọn, trang web sẽ sinh ra mã thẻ META, ta sẽ chép đoạn mã này vào phần template của blog.

Bước 3: Dán thẻ META vào template của blog

Đăng nhập vào http://www.blogger.com. Vào blog của bạn, di chuyển đến tab Template.

Chèn đoạn mã thẻ META vào như ví dụ sau:

Lưu lại thay đổi bằng cách nhấn nút Save Template.

Nhấn vào nút Republish Index only. Sau đó đợi vài giây cho đến khi blog của bạn được xuất bản trên web (publish) hoàn toàn.

Bước 4: Trở về lại Google Sitemaps để kết thúc quá trình xác thực.

Trở về lại Google Sitemaps, ta có thông báo: “Ive added the META tag in the home page of http://khanhle.blogspot.com/”.

Nhấn vào nút Verify để kết thúc quá trình xác thực.

Bước 5: Đến bước này blog của bạn đã được đưa vào Google Sitemaps. Tuy nhiên, bạn cần phải cung cấp cho Google địa chỉ chứa sitemap của blog của bạn. Ta sẽ dùng site feed (ATOM/XML) của blog làm sitemap.

Trở về hình ở bước một và nhấn vào liên kết “Add a Sitemap”, bạn có được:

Chọn Add General Web sitemap

Cung cấp địa chỉ URL blog của bạn, đó là địa chỉ của file atom.xml. Ví dụ http://khanhle.blogspot.com/atom.xml (*):

Nhấn vào nút Add Web Sitemap.

Bạn sẽ nhận được thông điệp xác nhận của Google:

“You have added a Sitemap to http://khanhle.blogspot.com/. Reports may take several hours to update. Thank you for your patience!

Chúc mừng! Bạn đã kết thúc quá trình đưa blog vào Google Sitemap. Bây giờ thì bạn chỉ còn phải đợi Google đánh chỉ mục cho blog của bạn.

(*) Chú ý: Bạn phải kích hoạt chức năng Site Feed cho blog của mình trước khi thực hiện bước này. Dưới đây là hướng dẫn.

Đăng nhập vào http://www.blogger.com . Vào blog của bạn, di chuyển đến tab Setting > Site Feed. Và thực hiện như hình sau:

Lưu lại cấu hình và “publish” lại blog của bạn.

Bước 6: Kiểm tra kết quả đánh chỉ mục của Google

Sau khoảng vài giờ hoặc một ngày, bạn hãy kiểm tra tài khoản trên Google Sitemaps xem blog của mình đã được Google đánh chỉ mục chưa. Nếu Google đã kiểm tra blog, bạn sẽ có kết quả tương tự hình dưới:

Tùy vào lượng tin, nội dung cũng như số lượng người truy cập mà trang blog của bạn có cơ hội xuất hiện trong kết quả tìm kiếm của Google hay không. Tuy nhiên, nếu từ khóa là tên của bạn hoặc các từ riêng biệt chỉ xuất hiện trên blog của bạn thì khả năng blog của bạn nằm trong Top 10 kết quả của Google là gần như chắc chắn.

Ví dụ sau đây kết quả của sử dụng tìm kiếm thông qua Google với từ khóa “le canh khanh”:

Nếu blog của bạn khá nổi tiếng, nhiều người xem và bình luận thì cơ hội cho nó xuất hiện dưới nhiều từ khóa khác nhau là hoàn toàn có thể, còn không thì thông qua tên, bạn bè cũng dễ dàng tìm ra blog của bạn.