19 bí mật ẩn sau Windows XP

1. Để biết thông tin về tình trạng máy

Nhấn phím Windows+R, gõ cmd và nhấn enter, sau đó gõ tiếp syteminfo. Nếu muốn lưu các thông tin này, nhập lệnh systeminfo > info.txt để tạo file text với tên info.txt. (Chỉ áp dụng đối với phiên bản Professional Edition).

2. Xoá file hoàn toàn khôngqua Recycle Bin

Nhấn phím Windows+R, gõ gpedit.msc, chọn User Configuration >Administrative Templates >  Windows Component> Windows Explorer và chọn Do not move deleted file trong các thiết lập của Recycle Bin. Ngoài ra, còn khá nhiều tùy chọn về giao diện hay hệ thống trong gpedit. Một số có thể làm ngừng các hoạt động của máy tính nếu bạn bất cẩn. (Chỉ áp dụng đối với phiên bản Professional Edition

3. Khóa máy tính tạm thời chỉ bằng click đúp chuột

Nhấn chuột phải lên desktop, chọn new > shortcut và nhập rundll32.exe user32.dll,LockWorkStation trong mục Location. Đặt tên shortcut tùy chọn. Mỗi khi cần khóa máy tính, chỉ cần click đúp vào shortcut này. (Tất nhiên, bạn vẫn có thể sử dụng tổ hợp phím Windows + L)

4. Đôi khi có những phần mềm được đặt chế độ ẩn gây bất tiện khi tháo bỏ như Windows Messenger

Để khắc phục, dùng Notepad hay Edit để chỉnh sửa file text ở C:/windows/inf/sysoc.inf, tìm và xóa bỏ từ hide. Từ nay về sau, bạn có thể gỡ bỏ các phần mềm đó bằng cách vào Control Panel >Add or Remove Programs>Add/Remove Windows Components.

5. XP cũng có một số câu lệnh mới khá thú vị dùng cho tệp DOS

-eventcreateeventtriggers để khởi tạo và theo dõi các hoạt động của hệ thống
-typeperf giám sát hoạt động của nhiều hệ thống con (subsystems) khác nhau
-schtasks quản lý các tác vụ đã được lên lịch trong mục All Programs > Accessories > System Tools > Scheđule Tasks

6. XP hỗ trợ giao thức IPv6

Tuy nhiên, người sử dụng chỉ có thể thử nghiệm trên mạng LAN do hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ Internet vẫn chưa hỗ trợ IPv6. Để tìm hiểu về IPv6 nhấn Windows+R, gõ ipv6 install… (lệnh này an toàn và không ảnh hưởng đến các thiết lập mạng đang sử dụng), nhập tiếp ipv6/?

7. Có thể ngừng các tác vụ đang hoạt động trên máy với lệnh taskill /pid với số các tác vụ, hoặc lệnh tskill với số lượng các chương trình đang hoạt động. Tương tự, lệnh tasklist cung cấp thông tin về các hoạt động của hệ thống.

8. File ZIP trog XP được coi như một thư mục (folder), khá tiện lợi đối với các máy có cấu hình cao. Đối những máy tốc độ chậm hơn, có thể yêu cầu XP coi các file ZIP độc lập với hệ thống bằng câu lệnh regsvr32 /u zipfldr.dll .Ngược lại, để hủy câu lệnh trên nhập regsvr32 zipfldr.dll.

9. ClearType là một chương trình khử răng cưa cho phông chữ được mặc định là không hoạt động. Những người dùng DOS hay có vấn đề về thị lực nên sử dụng thử chương trình này. Để khởi động ClearType, nhấn phải chuột lên màn hình desktop, chọn Properties, Appearance, Effects, chọn ClearType từ menu thả thứ 2 và nhấn OK. Chương trình đặc biệt hoạt động hiệu quả trên máy tính xách tay. Để ClearType hoạt động ngay từ màn hình Wellcome, nhấn Windows+R, gõ regedit, tìm HKEY_USERS>.DEFAULT>Control Panel>Desktop>FontSmoothingType, chuyển từ giá trị mặc định thành 2.

10. Chạy Remote Assisstance hỗ trợ máy tính cài tường lửa sử dụng NAT (network address translation)

Khi nhận được thư mời Remote Assisstance, chỉnh sửa phần địa chỉ NAT trong phần RCTICKET, ví dụ 192.168.1.10, thay thế địa chỉ này bằng IP thật của máy được trợ giúp (sử dụng trang www.whatismyip.com để xem) – lưu ý, máy được trợ giúp phải mở cổng 3389 trên tường lửa và chuyển tiếp tới máy trợ giúp.

11. Chạy một chương trình với nhiều tài khoản song song mà không cần phải đăng nhập nhiều lần

Nhấn chuột phải vào biểu tượng chương trình và chọn Run As… điền username và mật khẩu của tài khoản muốn sử dụng. Mẹo này khá hữu hiệu khi cài đặt phần mềm mà hầu hết hiện nay đều yêu cầu đăng nhập quyền Administrative.

12. Windows XP thường khá phiền phức khi không ngừng yêu cầu cập nhật tự động, đăng ký một Passport, hay sử dụng Windows Messenger v.v…

Tuy việc cập nhật không tốn nhiều thời gian, bạn có thể ngừng các yêu cầu này từ XP nều muốn : nhấn Windows+ R, gõ regedit, theo đường dẫn HKEY_CURRENT_USER>Software>Microsoft>Windows>Current Version>Explorer>Advanced tạo mới một giá trị DWORD có tên là EnableBalloonTips và gán giá trị 0.

13. Vào thẳng tài khoản không nhập username và password

Nhấn Windows+R, gõ control userpasswords2. Tại tab Users, bỏ ô chọn Users Must Enter A User Name And Password To Use This Computer và nhấn OK. Tại hộp thoại Automatically Log On điền username và mật khẩu của tài khoản muốn sử dụng.

14. Internet Explorer có thể tự động xóa các file lưu tạm khi được yêu cầu. Mở trình duyệt, chọn Tools> Internet Options, tại thẻ Advanced,  mục Security chọn ô Empty Temporary Internet Files và đóng trình duyệt.

15. Có thể thay thế các đèn LED của card mạng với chương trình miễn phí Network Activity Light trong XP

Nhấn phải chuột vào biểu tượng My Network Places trên màn hình desktop, chọn Properties. Tiếp tục nhấn phải chuột vào phần mô tả của mạng LAN hay kết nối dial-up, chọn Properties, chọn biếu tượng Show trong phần thông báo. Ngay bên phải trên thanh taskbar của màn hình sẽ xuất hiện một biểu tượng nhỏ nhấp nháy khá vui mắt mỗi khi sử dụng mạng.

16. Để điều chỉnh tốc độ sử dụng của thanh menu Start, bạn có thể thay đổi giá trị trong  registry HKEY_CURRENT_USER> Control Panel>Desktop>MenuShowDelay từ mặc định ban đầu là 400 xuống thấp hơn, ví dụ là 0.

17. Windows Explorer cũng có thể đổi tên file hàng loạt. Bôi chọn nhiều file trên một cửa số, nhấn phải chuột vào một trong số đó và rename. Tất cả các file sẽ được đổi tên giống nhau và có các con số trong ngoặc đơn để phân biệt. Ngoài ra, trong một danh mục, các biểu tượng có thể được sắp xếp thành từng nhóm bằng cách chọn View> Arrange Icon By> Show In Groups.

18. Windows Media Player có thể hiện bìa đĩa (cover) của album nhạc mỗi khi play các bài hát trong album đó – với điều kiện chương trình có thể tìm được cover của bài hát từ Internet. Nếu không, người sử dụng có thể tự đặt cover của album vào cùng một thư mục với các file nhạc. Lưu ý đặt tên cho cover là folder.jpg, WMP sẽ tự động hiển thị hình này mỗi khi chơi bài hát

19. Để gọi hộp thoại System Properties, nhấn tổ hợp phím Windows + Break. Tương tự, tổ hợp Windows + D để hiển thị màn hình desktop và tổ hợp Windows key + Tab để di chuyển giữa các nút trên thanh Taskbar.

Theo dantri

Dọn đường” để Win XP khởi động nhanh hơn (1)

CTnews – Máy tính là khởi động chậm khiến người dùng khó chịu. Đây là một số cách giúp cho máy tính dùng hệ điều hành Windows XP khởi động nhanh hơn.

Tắt những dịch vụ khởi động không cần thiết

Chạy cùng với các chương trình hệ thống lõi của Windows khi khởi động còn có một loạt dịch vụ. Một số cần cho Windows XP hoạt động, nhưng cũng có nhiều dịch vụ dành cho những tính năng có thể bạn không cần đến, có thể tắt bỏ. Nói chung, càng ít dịch vụ, Windows XP khởi động càng nhanh.

Để tắt bớt dịch vụ chạy lúc khởi động, bạn có thể làm hai cách: Cách đầu tiên là vào System Configuration Utility (Start/Run, gõ msconfig, nhấn OK). Thẻ Services cho thấy các dịch vụ chạy hoặc tắt khi máy tính khởi động. Bạn có thể tắt dịch vụ chạy khởi động bằng cách bỏ dấu kiểm của dịch vụ đó, rồi nhấn OK.

Cách thứ hai là truy cập mục quản lý các Services. Cách này được nhiều người áp dụng hơn vì giao diện của nó cung cấp nhiều thông tin và mô tả rõ hơn về chức năng của các dịch vụ. Có hai cách mở mục quản lý các Services: vào Control Panel/Administrative Tools/Services hoặc chọn Start/Run, gõ services.msc, rồi nhấn OK.

Trong mục quản lý Services, bạn nên lưu ý đến cột Startup Type. Thông tin cột này liệt kê cho thấy dịch vụ đó chạy tự động (automatic) hay tự chỉnh (manual). Các dịch vụ tự chỉnh chỉ khởi động trong Windows XP khi bạn khởi động quy trình yêu cầu dịch vụ đó. Một số quy trình khác có thể yêu cầu dịch vụ đó trong trường hợp có liên hệ phụ thuộc, trong trường hợp này dịch vụ phụ thuộc cũng sẽ khởi động. Bởi vì các dịch vụ tự chỉnh không tự động chạy khi bạn khởi động Windows XP, nên bạn không cần làm gì với các dịch vụ tự chỉnh.

Tuy nhiên, tất cả các dịch vụ được liệt kê là tự động (automatic) trong cột Startup Type sẽ chạy khi Windows XP khởi động. Như trên đã trình bày, nhiều dịch vụ trong số đó là không cần thiết, do đó bạn có thể dừng các dịch vụ tự động trừ khi bạn không biết hậu quả của việc tắt dịch vụ đó. Bạn có thể lấy thông tin về dịch vụ bằng cách nhìn vào cột Description. Dưới đây là một số dịch vụ bạn có thể dừng chạy lúc máy tính khởi động:

Cập nhật tự động (Automatic Updates): Dịch vụ này để cho Windows XP tự động kiểm tra khi máy tính nối mạng internet để cập nhật. Nếu không muốn dùng Automatic Updates, bạn có thể tắt bỏ dịch vụ này. Bạn có thể tự lên trang web của Microsoft để cập nhật cho Windows.

3 dịch vụ gồm trình duyệt máy tính (Computer Browser), DHCP Client và DNS Client có thể tắt nếumáy tính không kết nối mạng.

Error Reporting and Event Log: Tắt dịch vụ này cũng không sao, nhưng nó có thể có ích khi máy tính trục trặc (nhất là với các chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật), vì thế bạn nên để cấu hình tự động.

Fax: Nếu bạn không dùng máy tính để fax, có thể tắt dịch vụ này.

Help and Support: Nếu bạn không dùng Windows XP Help and Support Center (cũng có trên trình đơn Start), có thể tắt bỏ dịch vụ này.

IMAPI CD-Burning COM: Dịch vụ này cho phép ghi CD trên máy tính. Nếu bạn không ghi CD hoặc đang dùng phần mềm ghi CD chuyên dụng, có thể tắt bỏ dịch vụ này.

Indexing Service: Máy tính dùng dịch vụ này để chỉ mục file nhưng nếu bạn chẳng mấy khi tìm file thì dịch vụ này coi như thừa. Bạn có thể tắt và chuyển sang chế độ tự chỉnh.

Infrared Monitor: Nếu bạn không dùng các thiết bị hồng ngoại, có thể tắt dịch vụ này.

Messenger: Cho phép gửi tin cảnh báo trên mạng LAN (không giống như Windows Messenger). Nếu bạn không dùng mạng, có thể tắt dịch vụ này.

Print Spooler: Nếu bạn không in từ máy tính, có thể tắt bỏ dịch vụ này. Nếu cần in, nên để ở chế độ tự động.

Remote Registry: Cho phép người dùng từ xa sửa đổi Registry. Nếu bạn không dùng mạng, có thể tắt dịch vụ này.

System Restore Service: Dịch này cho phép bạn dùng System Restore. Nếu bạn đã tắt System Restore, không cần tắt dịch vụ này nữa.

Windows Image Acquisition: Nếu bạn không dùng máy quét (scanner) hoặc máy ảnh số, có thể tắt dịch vụ này.

Wireless Zero Configuration: Nếu không dùng các thiết bị nối mạng không dây, có thể vô hiệu dịch vụ này.

Ngoài ra, có thể còn có một số dịch vụ tự động khác tuỳ thuộc vào phần mềm và cấu hình trên máy tính. Vì thế, tốt nhất nên kiểm tra kỹ các dịch vụ. Nếu bạn kích đúp vào một dịch vụ, hộp thoại Properties xuất hiện. Trên thẻ General, ở mục Startup Type, nếu bạn muốn thay đổi dịch vụ tự động sang chế độ tự chỉnh, chọn Manual, nhấn OK. Thường thì mọi người không tắt bỏ dịch vụ trừ khi biết chắc là sẽ không bao giờ dùng đến. Tuy nhiên, cấu hình tự chỉnh sau này nếu bạn thấy cần dịch vụ đó thì lại chuyển sang tự động, như vậy giúp tăng tốc khởi động. Trước khi thay đổi dịch vụ sang chế độ tự chỉnh, hãy nhìn vào thẻ Dependencies. Thẻ này chỉ cho bạn thấy những dịch khác phụ thuộc vào dịch vụ bạn đang muốn thay đổi.

(còn tiếp)

Theo iCTnews

Ghi đĩa CD trong Win XP

ICTnews – Với các hệ điều hành có trước Win XP, việc ghi đĩa CD cần phải có phần mềm của hãng thứ ba hỗ trợ. Đến Win XP và Vista có tích hợp sẵn việc ghi đĩa CD.

 

Tất nhiên để có thể ghi đĩa thì trước hết là người dùng máy tính phải có một ổ ghi chứ không phải là ổ chỉ đọc thuần túy

Có thể chấp nhận các thông số mặc định mà Win XP đã xác lập cho chương trình ghi đĩa. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể quy định lại theo ý thích của mình. Thực hiện việc này như sau:

Bấm kép chuột vào biểu tượng My Computer để mở cửa sổ này ra. Bấm nút phải chuột vào biểu tượng của ổ ghi CD, từ menu xuất hiện bấm chọn Properties. Hộp Properties xuất hiện, bấm chọn thẻ Recording.

Tại khung Desktop CD Recording, đánh dấu chọn vào ô Enable CD recording on this driver. Chúng ta có thể ghi đĩa bằng cách bấm chuột kéo những file, những thư mục muốn ghi vào đĩa thả vào biểu tượng của ổ CD ghi.

Ở phần Select a drive wher Windows can store an “image” of the CD to be written… Chúng ta bấm chuột vào dấu mũi tên ở khung bên dưới rồi chọn một ổ đĩa thích hợp để hệ điều hành lưu tạm file ảnh (image) của đĩa CD trong quá trình ghi, file này có khi cần đến 1GB dung lượng vì vậy cần chọn ổ đĩa có dung lượng trống phù hợp.

Bấm chuột lên hộp list box thứ hai để chọn tốc độ ghi. Tùy theo tốc độ của ổ ghi mà các mức tốc độ sẽ được liệt kê trong đây. Tốt nhất là để mặc định: Fastest (nhanh nhất).

Mặc định là đánh dấu ô Automatically eject the CD after writing để Windows tự động đẩy đĩa đã được ghi ra ngoài sau khi ghi xong.

Việc ghi đĩa khá đơn giản với thao tác sau: Mở Windows Explorer bấm chọn file hoặc thư mục cần ghi lên đĩa, kéo nó thả vào biểu tượng ổ CD ghi. Hoặc đơn giản hơn nữa là bấm nút phải chuột vào thư mục hoặc file cần ghi lên đĩa, từ menu xuất hiện chọn Send to là ổ đĩa CD-R.

Windows sẽ chuyển các dữ liệu cần ghi vào một thư mục tạm rồi xuất hiện một quả bóng ở khay hệ thống. 

Bấm chuột vào đó để xem các dữ liệu sẽ được ghi. Bấm chuột vào dòng chữ ở góc trái trên cùng là Write these file to CD. Nếu không kịp bấm vào quả bóng nằm ở khay hệ thống mà nó đã biến mất thì đơn giản là mở My Computer và bấm kép vào biểu tượng ổ đĩa CD-R để mở cửa sổ liệt kê rồi thực hiện việc ghi đĩa.