DoS và DDoS toàn tập – Phần II

DoS và DDoS toàn tập – Phần II
Trong phần II của bài viết về tấn công DoS và DDoS tôi sẽ trình bày với các bạn nội dung chi tiết về mạng Bot, các dạng mạng Bot và cách tạo ra mạng Botnet. Khi hiểu về mạng Botnet bạn có thể hình dung ra phương thức tấn công DDoS.

Phần I: của bài viết tập trung vào DoS

Trong phần II này tôi cũng trình bày với các bạn chi tiết các phương thức tấn công DDoS các thực hiện các phương thức tấn công này. Nhưng bài viết này chỉ có tác dụng giúp các bạn hiểu biết sâu về tấn công DDoS mà thôi, các tools giới thiệu chỉ mang tính giới thiệu vì nó là các tools DDoS cũ.

VI. Mạng BOT NET

1. Ý nghĩa của mạng BOT

– Khi sử dụng một Tool tấn công DoS tới một máy chủ đôi khi không gây ảnh hưởng gì cho máy chủ – Giả sử bạn sử dụng tool Ping of Death tới một máy chủ, trong đó máy chủ kết nối với mạng tốc độ 100Mbps bạn kết nối tới máy chủ tốc độ 3Mbps – Vậy tấn công của bạn không có ý nghĩa gì.

– Nhưng bạn hãy tưởng tượng có 1000 người như bạn cùng một lúc tấn công vào máy chủ kia khi đó toàn bộ băng thông của 1000 người cộng lại tối đa đạt 3Gbps và tốc độ kết nối của máy chủ là 100 Mbps vậy kết quả sẽ ra sao các bạn có khả năng tưởng tượng.

– Nhưng tôi đang thử hỏi làm cách nào để có 1000 máy tính kết nối với mạng – tôi đi mua một nghìn chiếc và thuê 1000 thuê bao kết nối – chắc chắn tôi không làm như vậy rồi và cũng không kẻ tân công nào sử dụng phương pháp này cả.

– Kẻ tấn công xây dựng một mạng gồm hàng nghìn máy tính kết Internet (có mạng BOT lên tới 400.000 máy). Vậy làm thể nào chúng có khả năng lợi dụng người kết nối tới Internet để xây dựng mạng BOT trong bài viết này tôi sẽ giới thiệu với các bạn các mạng BOT và cách xây dựng, những Tool xây dựng.

– Khi có trong tay mạng BOT kẻ tấn công sử dụng những tool tấn công đơn giản để tấn công vào một hệ thống máy tính. Dựa vào những truy cập hoàn toàn hợp lệ của hệ thống, cùng một lúc chúng sử dụng một dịch vụ của máy chủ, bạn thử tưởng tượng khi kẻ tấn công có trong tay 400.000 máy chủ và cùng một lúc ra lệnh cho chúng download một file trên trang web của bạn. Và đó chính là DDoS – Distributed Denial of Servcie

– Không có một phương thức chống tấn công DDoS một cách hoàn toàn nhưng trong bài viết này tôi cũng giới thiệu với các bạn những phương pháp phòng chống DDoS khi chúng ta đã hiểu về nó.

2. Mạng BOT

– BOT từ viết tắt của từ RoBOT

– IRCbot – còn được gọi là zombia hay drone.

– Internet Relay Chat (IRC) là một dạng truyền dữ liệu thời gian thực trên Internet. Nó thường được thiết kế sao cho một người có thể nhắn được cho một group và mỗi người có thể giao tiếp với nhau với một kênh khác nhau được gọi là – Channels.

– Đầu tiên BOT kết nối kênh IRC với IRC Server và đợi giao tiếp giữa những người với nhau.

– Kẻ tấn công có thể điều khiển mạng BOT và sử dụng mạng BOT cũng như sử dụng nhằm một mục đích nào đó.

– Nhiều mạng BOT kết nối với nhau người ta gọi là BOTNET – botnet.

3. Mạng Botnet.

– Mạng Botnet bao gồm nhiều máy tính

– Nó được sử dụng cho mục đích tấn công DDoS

– Một mạng Botnet nhỏ có thể chỉ bao gồm 1000 máy tính nhưng bạn thử tưởng tượng mỗi máy tính này kết nối tới Internet tốc độ chỉ là 128Kbps thì mạng Botnet này đã có khả năng tạo băng thông là 1000*128 ~ 100Mbps – Đây là một con số thể hiện băng thông mà khó một nhà Hosting nào có thể share cho mỗi trang web của mình.

4. Mục đích sử dụng mạng Botnets

– Tấn công Distributed Denial-of-Service – DDoS

+ Botnet được sử dụng cho tấn công DDoS

– Spamming

+ Mở một SOCKS v4/v5 proxy server cho việc Spamming

– Sniffing traffic

+ Bot cũng có thể sử dụng các gói tin nó sniffer (tóm được các giao tiếp trên mạng) sau khi tóm được các gói tin nó cố gắng giải mã gói tin để lấy được các nội dung có ý nghĩa như tài khoản ngân hàng và nhiều thông tin có giá trị khác của người sử dụng.

– Keylogging

+ Với sự trợ giúp của Keylogger rất nhiều thông tin nhạy cảm của người dùng có thể sẽ bị kẻ tấn công khai thác như tài khoản trên e-banking, cũng như nhiều tài khoản khác.

– Cài đặt và lây nhiễm chương trình độc hại

+ Botnet có thể sử dụng để tạo ra mạng những mạng BOT mới.

– Cài đặt những quảng cáo Popup

+ Tự động bật ra những quảng cáo không mong muốn với người sử dụng.

– Google Adsense abuse

+ Tự động thay đổi các kết quả tìm kiếm hiển thị mỗi khi người dùng sử dụng dịch vụ tìm kiểm của Google, khi thay đổi kết quả nó sẽ lừa người dùng kích vào những trang web nguy hiểm.

– Tấn công vào IRC Chat Networks

+ Nó được gọi là clone attack

– Phishing

+ Mạng botnet còn được sử dụng để phishing mail nhằm lấy các thông tin nhạy cảm của người dùng.

5. Các dạng của mạng BOT.

Agobot/Phatbot/Forbot/XtremBot

– Đây là những bot được viết bằng C++ trên nền tảng Cross-platform và mã nguồn được tìm trên GPL. Agobot được viết bởi Ago nick name được người ta biết đến là Wonk, một thanh niên trẻ người Đức – đã bị bắt hồi tháng 5 năm 2004 với tội danh về tội phạm máy tính.

– Agobot có khả năng sử dụng NTFS Alternate Data Stream (ADS) và như một loại Rootkit nhằm ẩn các tiến trình đang chạy trên hệ thống

SDBot/Rbot/UrBot/UrXbot

– SDBot được viết bằng ngồn ngữ C và cũng được public bởi GPL. Nó đươc coi như là tiền thân của Rbot, RxBot, UrBot, UrXBot, JrBot

mIRC-Based Bots – GT-Bots

– GT được viết tắt tư fhai từ Global Threat và tên thường được sử dụng cho tất cả các mIRC-scripted bots. Nó có khả năng sử dụng phần mềm IM là mIRC để thiết lập một số script và một số đoạn mã khác.

6. Các bước xây dựng mạng BotNet? Cách phân tích mạng Bot.

Để hiểu hơn về xây dựng hệ thống mạng BotNet chúng ta nghiên cứu từ cách lây nhiễm vào một máy tính, cách tạo ra một mạng Bot và dùng mạng Bot này tấn công vào một đích nào đó của mạng Botnet được tạo ra từ Agobot’s.

Bước 1: Cách lây nhiễm vào máy tính.

– Đầu tiên kẻ tấn công lừa cho người dùng chạy file “chess.exe”, một Agobot thường copy chúng vào hệ thống và sẽ thêm các thông số trong Registry để đảm bảo sẽ chạy cùng với hệ thống khi khởi động. Trong Registry có các vị trí cho các ứng dụng chạy lúc khởi động tại.

HKLM\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Run

HKLM\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\RunServices

Bước 2: Cách lây lan và xây dựng tạo mạng BOTNET

– Sau khi trong hệ thống mạng có một máy tính bị nhiễm Agobot, nó sẽ tự động tìm kiếm các máy tính khác trong hệ thống và lây nhiễm sử dụng các lỗ hổng trong tài nguyên được chia sẻ trong hệ thống mạng.

– Chúng thường cố gắng kết nối tới các dữ liệu share mặc định dành cho các ứng dụng quản trị (administrator or administrative) ví dụ như: C$, D$, E$ và print$ bằng cách đoán usernames và password để có thể truy cập được vào một hệ thống khác và lây nhiễm.

– Agobot có thể lây lan rất nhanh bởi chúng có khả năng tận dụng các điểm yếu trong hệ điều hành Windows, hay các ứng dụng, các dịch vụ chạy trên hệ thống.

Bước 3: Kết nối vào IRC.

– Bước tiếp theo của Agobot sẽ tạo ra một IRC-Controlled Backdoor để mở các yếu tố cần thiết, và kết nối tới mạng Botnet thông qua IRC-Controll, sau khi kết nối nó sẽ mở những dịch vụ cần thiết để khi có yêu cầu chúng sẽ được điều khiển bởi kẻ tấn công thông qua kênh giao tiếp IRC.

Bước 4: Điều khiển tấn công từ mạng BotNet.

– Kẻ tấn công điều khiển các máy trong mạng Agobot download những file .exe về chạy trên máy.

– Lấy toàn bộ thông tin liên quan và cần thiết trên hệ thống mà kẻ tấn công muốn.

– Chạy những file khác trên hệ thống đáp ứng yêu cầu của kẻ tấn công.

– Chạy những chương trình DDoS tấn công hệ thống khác.

7. Sơ đồ cách hệ thống bị lây nhiễm và sử dụng Agobot.

VII. Các tools tấn công DDoS

1. Nuclear Bot.

– Nuclear Bot là một tool cực mạnh “Multi Advanced IRC BOT” có thể sử dụng để Floods, Managing, Utilities, Spread, IRC Related, tấn công DDoS và nhiều mục đích khác.

VIII. Tấn công DDoS

Trên Internet tấn công Distributed Denial of Service là một dạng tấn công từ nhiều máy tính tới một đích, nó gây ra từ chối các yêu cầu hợp lệ của các user bình thường. Bằng cách tạo ra những gói tin cực nhiều đến một đích cụ thể, nó có thể gây tình trạng tương tự như hệ thống bị shutdown.

2. Các đặc tính của tấn công DDoS.

– Nó được tấn công từ một hệ thống các máy tính cực lớn trên Internet, và thường dựa vào các dịch vụ có sẵn trên các máy tính trong mạng botnet

– Các dịch vụ tấn công được điều khiển từ những “primary victim” trong khi các máy tính bị chiếm quyền sử dụng trong mạng Bot được sử dụng để tấn công thường được gọi là “secondary victims”.

– Là dạng tấn công rất khó có thể phát hiện bởi tấn công này được sinh ra từ nhiều địa chỉ IP trên Internet.

– Nếu một địa chỉ IP tấn công một công ty, nó có thể được chặn bởi Firewall. Nếu nó từ 30.000 địa chỉ IP khác, thì điều này là vô cùng khó khăn.

– Thủ phạm có thể gây nhiều ảnh hưởng bởi tấn công từ chối dịch vụ DoS, và điều này càng nguy hiểm hơn khi chúng sử dụng một hệ thống mạng Bot trên internet thực hiện tấn công DoS và đó được gọi là tấn công DDoS.

3. Tấn công DDoS không thể ngăn chặn hoàn toàn.

– Các dạng tấn công DDoS thực hiện tìm kiếm các lỗ hổng bảo mật trên các máy tính kết nối tới Internet và khai thác các lỗ hổng bảo mật để xây dựng mạng Botnet gồm nhiều máy tính kết nối tới Internet.

– Một tấn công DDoS được thực hiện sẽ rất khó để ngăn chặn hoàn toàn.

– Những gói tin đến Firewall có thể chặn lại, nhưng hầu hết chúng đều đến từ những địa chỉ IP chưa có trong các Access Rule của Firewall và là những gói tin hoàn toàn hợp lệ.

– Nếu địa chỉ nguồn của gói tin có thể bị giả mạo, sau khi bạn không nhận được sự phản hồi từ những địa chỉ nguồn thật thì bạn cần phải thực hiện cấm giao tiếp với địa chỉ nguồn đó.

– Tuy nhiên một mạng Botnet bao gồm từ hàng nghìn tới vài trăm nghìn địa chỉ IP trên Internet và điều đó là vô cùng khó khăn để ngăn chặn tấn công.

4. Kẻ tấn công khôn ngoan.

Giờ đây không một kẻ tấn công nào sử dụng luôn địa chỉ IP để điều khiển mạng Botnet tấn công tới đích, mà chúng thường sử dụng một đối tượng trung gian dưới đây là những mô hình tấn công DDoS

a. Agent Handler Model

Kẻ tấn công sử dụng các handler để điều khiển tấn công

b. Tấn công DDoS dựa trên nền tảng IRC

Kẻ tấn công sử dụng các mạng IRC để điều khiển, khuyếch đại và quản lý kết nối với các máy tính trong mạng Botnet.

IX. Phân loại tấn công DDoS

– Tấn công gây hết băng thông truy cập tới máy chủ.

+ Flood attack

+ UDP và ICMP Flood (flood – gây ngập lụt)

– Tấn công khuếch đại các giao tiếp

+ Smurf and Fraggle attack

Tấn công DDoS vào Yahoo.com năm 2000

Sơ đồ phân loại tấn công DDoS

Sơ đồ tấn công DDoS ở dạng Khuếch đại giao tiếp.

Như các bạn biết tấn công Smurf khi sử dụng sẽ Ping đến địa chỉ Broadcast của một mạng nào đó mà địa chỉ nguồn chính là địa chỉ của máy cần tấn công, khi đó toàn bộ các gói Reply sẽ được chuyển tới địa chỉ IP của máy tính bị tấn công.

X. Tấn công Reflective DNS (reflective – phản chiếu).

a. Các vấn đề liên quan tới tấn công Reflective DNS

– Một Hacker có thể sử dụng mạng botnet để gửi rất nhiều yêu cầu tới máy chủ DNS.

– Những yêu cầu sẽ làm tràn băng thông mạng của các máy chủ DNS,

– Việc phòng chống dạng tấn công này có thể dùng Firewall ngăn cấm những giao tiếp từ các máy tính được phát hiện ra.

– Nhưng việc cấm các giao tiếp từ DNS Server sẽ có nhiều vấn đề lớn. Một DNS Server có nhiệm vụ rất quan trọng trên Internet.

– Việc cấm các giao tiếp DNS đồng nghĩa với việc cấm người dùng bình thường gửi mail và truy cập Website.

– Một yêu cầu về DNS thường chiếm bằng 1/73 thời gian của gói tin trả lời trên máy chủ. Dựa vào yếu tố này nếu dùng một Tools chuyên nghiệp để làm tăng các yêu cầu tới máy chủ DNS sẽ khiến máy chủ DNS bị quá tải và không thể đáp ứng cho các người dùng bình thường được nữa.

b. Tool tấn công Reflective DNS – ihateperl.pl

– ihateperl.pl là chương trình rất nhỏ, rất hiệu quả, dựa trên kiểu tấn công DNS-Reflective

– Nó sử dụng một danh sách các máy chủ DNS để làm tràn hệ thống mạng với các gói yêu cầu Name Resolution.

– Bằng một ví dụ nó có thể sử dụng google.com để resole gửi tới máy chủ và có thể đổi tên domain đó thành http://www.vnexperts.net hay bất kỳ một trang web nào mà kẻ tấn công muôn.

– Để sử dụng công cụ này, rất đơn giản bạn tạo ra một danh sách các máy chủ DNS, chuyển cho địa chỉ IP của máy cá nhân và thiết lập số lượng các giao tiếp.

XI. Các tools sử dụng để tấn công DDoS.

Trong toàn bộ các tools tôi giới thiệu trong bài viết này hầu hết là các tools cũ và không hiệu quả, và chỉ mang tính chất sư phạm để các bạn có thể hiểu về dạng tấn công DDoS hơn mà thôi. Dưới đây là các Tools tấn công DDoS.

– Trinoo –    Tribe flood Network (TFN) –    TFN2K –    Stacheldraht –    Shaft

– Trinity –    Knight –    Mstream –   Kaiten

Các tools này bạn hoàn toàn có thể Download miễn phí trên Internet và lưu ý là chỉ để thử đây là các tools yếu và chỉ mang tính Demo về tấn công DdoS mà thôi.

Theo VnExperts

Đấu giá trực tuyến hàng đầu Việt Nam

Advertisements

DDos là gì

Cái này chắc các bác ai cũng biết nhưng em xin post đây để những “Gà” như em đây bik thêm !

DDOS – Distributed Denial Of Service.

• 1998 Chương trình Trinoo Distributed Denial of Service (DDoS) được viết bởi Phifli.

• Tháng 5 – 1999 Trang chủ của FBI đã ngừng họat động vì cuộc tấn công bằng (DDOS)

• Tháng 6 – 1999 Mạng Trinoo đã được cài đặt và kiểm tra trên hơn 2000 hệ thống.

DDOS – Distributed Denial Of Service ?

• Cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1999, Tribal Flood Network đầu tiiên ra đời, Chương trình được Mixter Phát triển.

• Cuối tháng 9 năm 1999, Công cụ Stacheldraht đã bắt đầu xuất hiện trên những hệ thống của Châu âu và Hoa kỳ.

• Ngày 21 tháng 10 năm 1999 David Dittrich thuộc trường đại học Washington đã làm những phân tích về công cụ tấn công từ chối dịch vụ

• Ngày 21 tháng 12 năm 1999 Mixter phát hành Tribe Flood Network 2000 ( TFN2K ).

• 10 : 30 / 7 – 2 -2000 Yahoo! ( Một trung tâm nổi tiếng ) đã bị tấn công từ chối dịch vụ và ngưng trệ hoạt động trong vòng 3 giờ đồng hồ. Web site Mail Yahoo và GeoCities đã bị tấn công từ 50 địa chỉ IP khác nhau với nhửng yêu cầu chuyễn vận lên đến 1 gigabit /s.

DDOS – Distributed Denial Of Service ?

• 8 -2 nhiều Web site lớn như Buy.com, Amazon.com, eBay, Datek, MSN, và CNN.com bị tấn công từ chối dịch vụ.

• Lúc 7 giờ tối ngày 9-2/2000 Website Excite.com là cái đích của một vụ tấn công từ chối dịch vụ, dữ liệu được luân chuyễn tới tấp trong vòng 1 giờ cho đến khi kết thúc, và gói dữ liệu đó đã hư hỏng nặng.

• Qua đó ta có thể thấy rõ những vụ tấn công từ chối dịch vụ (Denial Of Services Attack ) và những cuộc tấn công về việc gửi nhửng gói dữ liệu tới máy chủ (Flood Data Of Services Attack) tới tấp là những mối lo sợ cho nhiều mạng máy tính lớn và nhỏ hiện nay,

• Khi một mạng máy tính bị Hacker tấn công nó sẽ chiếm một lượng lớn tài nguyên trên server như dung lượng ổ cứng, bộ nhớ, CPU, băng thông …. Lượng tài nguyên này tùy thuộc vào khả năng huy động tấn công của mỗi Hacker. Khi đó Server sẽ không thể đáp ứng hết những yêu cầu từ những client của những người sử dụng và từ đó server có thể sẽ nhanh chóng bị ngừng hoạt động, crash hoặc reboot.

• Tấn công từ chối dịch vụ có rất nhiều dạng như Ping of Death, Teardrop, Aland Attack, Winnuke, Smurf Attack, UDP/ICMP Flooding, TCP/SYN Flooding, Attack DNS.

Ping Of Death.

Một số máy tính sẽ bị ngưng họat động, Reboot hoặc bị crash khi bị nhận những gói dữ liệu ping có kích thước lớn.

• Ví dụ như : ping địachỉ -n 1000
trong đó : số 1000 là số lần gửi gói dữ liệu.

• TCP/SYN Flooding:

Bước 1: Khách hàng gửi một TCP SYN packet đến cổng dịch vụ của máy chủ

Khách hàng -> SYN Packet -> Máy chủ

Bước 2 : Máy chủ sẽ phản hồi lại khách hàng bằng 1 SYN/ACK Packet và chờ nhận một 1 ACK packet từ khách hàng

Máy chủ -> SYN/ACK Packet -> Khách hàng

Bước 3: Khách hàng phản hồi lại Máy chủ bằng một ACK Packet và việc kết nối hòan tất Khách hàng và máy chủ thực hiện công việc trao đổi dữ liệu với nhau.

Khách hàng -> ACK Packet -> Máy chủ

• Trong trường hợp Hacker thực hiện việc SYN Flooding bằng cách gửi tới tấp, hàng loạt TCP SYN packet đến cổng dịch vụ của máy chủ sẽ làm máy chủ bị quá tải và không còn khả năng đáp ứng được nữa.

• UDP/ICMP Flooding:
Hacker thực hiện bằng cách gửi 1 số lượng lớn các gói tin UDP/ICMP có kích thước lớn đến hệ thống mạng, khi hệ thống mạng chịu phải sự tấn công này sẽ bị qua tải và chiếm hết băng thông đường truyền đi ra bên ngòai của mạng này, vì thế nó gây ra nhửng ảnh hưởng rất lớn đến đường truyền cũng như tốc độ của mạng, gây nên những khó khăn cho khách hàng khi truy cập từ bên ngoài vào mạng này.

• Những điều kiện đủ để có những cuộc tấn công DoS Có hiệu quả:
Để có được những cuộc tấn công DOS có hiệu quả thông thường một Hacker phải lựa chọn cho mình những đường truyền có dung lượng lớn cũng như tốc độ máy được dùng làm công cụ tấn công. Nếu không hội tụ được những điều kiện trên thì cuộc tấn công sẽ không mang lại mấy khả quan.

• Nhưng với những tiện ích như Trinoo, TFN2K, Stacheldraht… người tấn công không phải chỉ dùng 1 nơi để tấn công mà sử dụng nhiều mạng lưới khác nhau để thực hiện việc tấn công đồng lọat. Các máy được dùng để tấn công thường là các máy có kết nối Internet bị người tấn công xâm nhập.

• Qua đó chúng tôi đã tham khảo và biết một số cách nhưng hầu hết không chống được một cách triệt để.

1. Khi bạn phát hiện máy chủ mình bị tấn công hãy nhanh chóng truy tìm địa chỉ IP đó và cấm không cho gửi dữ liệu đến máy chủ.

2. Dùng tính năng lọc dữ liệu của router/firewall để loại bỏ các packet không mong muốn, giảm lượng lưu thông trên mạng và tải của máy chủ.

3. Sử dụng các tính năng cho phép đặt rate limit trên router/firewall để hạn chế số lượng packet vào hệ thống.

4. Nếu bị tấn công do lỗi của phần mềm hay thiết bị thì nhanh chóng cập nhật các bản sửa lỗi cho hệ thống đó hoặc thay thế.

5. Dùng một số cơ chế, công cụ, phần mềm để chống lại TCP SYN Flooding.

6. Tắt các dịch vụ khác nếu có trên máy chủ để giảm tải và có thể đáp ứng tốt hơn. Nếu được có thể nâng cấp các thiết bị phần cứng để nâng cao khả năng đáp ứng của hệ thống hay sử dụng thêm các máy chủ cùng tính năng khác để phân chia tải.

7. Tạm thời chuyển máy chủ sang một địa chỉ khác.

Flooding Data Attack ?

• Hoàn toàn khác với DDos về khả năng tấn công cũng như sự huy động tấn công rất dễ dàng để làm tràn ngập dữ liệu (Flood data attack !) được phát triển ở rất nhiều dạng nó dựa vào những lỗi của hầu hết các mã nguồn mở của ASP, PHP, JSP, CGI …..

• Với DDOS như chúng ta đã biết khi một số Hacker muốn mở những cuộc tấn công đều phải hội tụ những điều kiện, là phải dùng những máy chủ có đường truyền cao và thường thì phải @hắc vào server đó mới có thể huy động làm công cụ tấn công được, ngược lại với Flood data attack việc huy động quá dễ, nó chia ra làm 2 dạng tấn công như sau:

• Dạng 1: Được chạy trên trên môi trường Windonw, Unix, Linux …

• Dạng 2: Được đính kèm trên các Website và nhận lệnh tấn công từ một địa chỉ nào đó trên Mạng toàn cầu.

• Dạng 1: Với kích thước từ 500 byte đến 1Kb các Hacker dễ dàng đính kèm vào một Website nào đó có nhiều người hiện đang có mặt truy cập trên Website đó. Với đọan mã trên ta có thể thấy Hacker đã đặt kích thước tập tin Flooddata.swf ở chế độ Chiều rộng (width) là bằng 0 và chiều cao (height) cũng bằng 0 như thế tập tin này sẽ không thể hiển thị được trên trên trang Web đó

Khi người sử dụng vào Website này lập tức sẽ kích họat chương trình Flood Data Attack ! của Hacker tại địa chỉ là http://noitancong.com/filedata.swf và Hacker cũng dễ dàng điều khiển chương trình bằng 1 file nguồn ở 1 Website nào đó của Hacker trên mạng mà Hacker đó đặt ra trong chương trình Flooding data Attack.

Hacker có thể kiểm soát được số người hiện đang kích hoạt chương trình Flood data của mình trên Website đó và khi nào Hacker cảm thấy số lượng người đang kích hoạt chương trình đã đủ để việc tấn công một Website nào đó trên mạng thành công thì công việc đó có thể được bắt đầu.

Ví dụ như hacker vào một địa chỉ như http://www.vbuleetin.com để thực hiện công việc tấn công trang này hacker cần phải tìm những nơi có sự trao đổi dữ liệu cho nhau như Register, Search, Login, Sendmail ….. Sau khi đã thu thập được những thành phần trên Hacker bắt đầu thực hiện lấy những đầu vào(input) và gán nhửng giá trị đầu vào trên lên nơi điều khiển của chương trình Flood data attack!.

Ví dụ phần trên sẽ được gán với biến như sau :

Url=http://www.vbuleetin.com/register.php&username=user + random(999999999)&password = flood&passwordconfim=password&email=random(1000000 00)+@vbulleetin.com

Trong đó Url là giá trị của Website bị tấn công, Username với giá trị là một user nào đó do hacker đặt ra và cộng với biến ngẫu nhiên ở sau mỗi user mà hacker đặt ra là khác nhau. Một khi Website này bị tấn công, toàn bộ họat động của Server chứa Website đó sẽ bị hậu quả rất ngiêm trọng tùy theo số lượng người kích họat vào chương trình Flood data attack! Của hacker đó, Lúc này những phần bị ảnh hưởng sẽ là MailServer, MySQL, PHP, Apache, FTP….

• Đối với MySQL : Khi bị Flood data attack! Những yêu cầu sẽ được gửi liên tục đến Server và được chuyển qua MySQL xử lý với số lượng lớn và nối tiếp nhau cho đến khi quá tải chương trình MySQL sẽ hòan toàn bị vô tác dụng song song với việc ảnh hưởng đến MySQL là việc ảnh hưởng đến MailServer.

Với giá trị là random(100000000)+@vbuleetin.com thì khi thực thi nó sẽ gửi từ ‘1@vbuleetin.com’ cho đến ‘100000000@vbuleetin.com’ tất nhiên nhửng email này sẽ không có thực đối với trang chủ của Website ‘http://www. vbuleetin.com.

• Đối với sẽ nhửng địa chỉ email này MailServer đưa vào danh sách “Msgs Failed” nhưng với giá trị là @vbulletin.com thì hầu hết một nhà cung cấp “domain” và “hosting” sẽ chuyển về một số email mặc định như là postmaster, admin, administrator, supervisor, hostmaster, webmaster.

Những Hacker có thể lợi dụng những Form mail trong việc trao đổi thông tin giữa khách hàng với chủ cung cấp dịch vụ để thực hiện những cuộc tấn công, những cuốc tấn công này thường rất nguy hiễm vì có thể trong 1 giây Hacker thực hiện từ 100 lần đến hàng nghìn lần với những yêu cầu SendEmail từ 1 user trên server đó đến MailServer.

• Dạng 2: Được chạy dưới dạng file.exe với dạng thức này thì khả năng tấn công vẫn giống như cách tấn công nằm trên website nhưng khả năng tấn công được nâng thêm nhiều dạng như Ping, Flood Ftp, Flood Smtp… tùy vào khả năng phát triển của Hacker.

Cũng giống như chương trình Flood data attack! Được gắn trên website dạng .exe này cũng được điều khiển từ 1 Website. Thường thì nơi điều khiển được đặt chung 1 nơi để tiện cho việc điều khiển.

Với những phương thức tấn công như vậy ta cũng có thể thấy được tầm nguy hiểm của nó nếu như được đặt trên một server với số lượng người truy cập đông như Google hoặc 1 Website nổi tiếng nào đó thì sức phá hoại của nó là rất khủng khiếp.

• Với 1 client/1s có thể gửi từ 3 – 8 yêu cầu có thực đến máy chủ thực thi và xử lý thông qua đó nó có thể ảnh hưởng đến Php, Apache, Phpmail, MySQL, FTP …., Tùy theo những mã nguồn của ASP, PHP, JSP, CGI, PL hoặc chung quy là những mã nguồn có liên quan đến công việc xuất và nhập dữ liệu.

Nếu hacker huy động hoặc @hắc được những server hoặc Website nào đó có số lượng người Online khoảng 2000 thì trong 1 giây Server đó sẽ phải thực thi khoảng 6000 yêu cầu từ các client gửi đến Server đó.

Ví dụ : Có User nằm trên server X nào đó user đó có cài đặt mã nguồn mở như Forum IPB (Invision Power Boards) khi hacker sử dụng mục đăng ký làm nơi tấn công Flood data thì trong vòng một giây như phần trên đã nêu sẽ có khoãng 6000 nickname được khởi tạo đi kèm theo đó là 6000 yêu cầu đã được mã nguồn mử thiết lập khi đăng ký và sẽ kèm theo việc gửi email đến các địa chỉ đã đăng ký.

• Như vậy đi kèm với 6000 nickname trên, MailServer sẽ phải gửi đi 6000 yêu cầu trong vòng 1/s việc này nếu như bị kéo dài từ 5 – 10 phút thì Server đó hầu như sẽ không còn họat động được.

Bandwith lúc này có thể tăng 5 – 10 MB/s cộng thêm data khi được chuyển đến MySQL lúc này có thể đạt tới 5 -7 MB/s nữa khi đó toàn bộ các phần mềm như Apache, MailServer, PHP, MySQL, FTP đều bị ngưng họat động. Lúc đó server có thể sẽ bị reboot.

Vì Hacker sử dụng phương tiện tấn công Online trên Website và dựa vào lượng khách truy cập thông tin ở nhiều Website nên phương pháp này hầu như rất khó chống, mỗi ngày Hacker có thể dùng hàng ngàn địa chỉ IP trên khắp thế giới để thực hiện việc tấn công như thế ta có thể thấy nó đơn giản so với DDos rất nhiều nhưng sự nguy hiểm có lẽ hơn hẳn DDos. Vì Flooding Data Attack tấn công theo dạng địa chỉ ‘http://victim.com/data.php&bien1&bien2&bien3’ theo cổng GET hoặc POST vì vậy, cho dù bất cứ lý do gì khi tấn công cũng phải đi qua hướng này.

Do lỗi được xuất hiện ở các mã nguốn ASP hay PHP nên cách tốt nhất là sửa và xem lại những mã nguồn mà người sử dụng muốn đưa lên mạng. Để tránh bị Flood data Attack! Thì cách phòng chống tạm thời vẫn là thêm một chuỗi ngẫu nhiên trên mỗi Form có sự xuất và nhập dữ liệu tuy nhiên những cách trên chưa phải là những cách hòan thiện để chống lại nhửng cuộc tấn công tràn ngập dữ liệu (Flooding Data Attack).